Đặc điểm văn hóa Phật giáo Bạc Liêu
Đặc điểm văn hóa Phật giáo Bạc Liêu
ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA PHẬT GIÁO TỈNH BẠC LIÊU
Đại đức Thích Minh Lành
Phó Trưởng ban Thường trực
BTS Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu
Bạc Liêu là tỉnh thứ XX, một trong 20 tỉnh thời Nam kỳ thuộc Pháp, tuy ra đời muộn hơn các tỉnh khác, nhưng lại là một tỉnh có bề dày lịch sử rất lớn và đặc điểm văn hóa thật nhiều. Phật giáo đã đóng góp một phần rất lớn trong quá trình hình thành, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tỉnh nhà. Từ thời kỳ khai hoang lập ấp đến khi tỉnh Bạc Liêu ra đời và cho đến nay, Phật giáo Bạc Liêu luôn đồng hành cùng ba dân tộc anh em để làm nên những trang sử hào hùng qua những lần chống ngoại xâm, bảo vệ quê hương xứ sở, đồng thời thắt chặt tay nhau trong suốt chặng đường phát huy văn hóa, sáng tạo văn học nghệ thuật, không những đã nâng cao vai trò của Phật giáo, làm lớn mạnh Giáo hội, mà còn phục vụ đồng bào Phật tử và quần chúng nhân rất tích cực qua mọi thời kỳ lịch sử.
Đặc điểm văn hóa Phật giáo Bạc Liêu, đây là một đề tài lớn có cả chiều rộng lẫn chiều dài, vì vậy trong khuôn khổ bài tham luận chỉ nêu khái quát một số đặc điểm văn hóa tiêu biểu như sau:
I. DI TÍCH CHÙA THÁP VĨNH HƯNG CÓ NHỮNG DI VẬT KHẢO CỔ TRÊN NGÀN NĂM
Trong quần thể di tích chùa tháp Vĩnh Hưng thuộc huyện Vĩnh Lợi tỉnh Bạc Liêu, ngoài chùa Phước Bửu còn có một ngôi tháp được gọi là tháp cổ Vĩnh Hưng, về niên đại ra đời của ngôi tháp hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng căn cứ vào những di vật thu được qua những lần khai quật thì ngôi tháp cũng đã tồn tại trên dưới một ngàn năm trăm năm, đã được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định số 983 ngày 04/08/1992 liệt vào danh mục di tích lịch sử văn hóa. Tháp còn có tên dân gian là tháp Trà Long, tháp Lục Hiền, nguyên là tên hai vị trụ trì trước đây. Tháp cổ Vĩnh Hưng do một nhà khảo cổ người Pháp phát hiện năm 1911, được nhà cầm quyền thời đó xếp hạng thứ 14 trong danh mục các di tích lịch sử ở Nam kỳ. Trong thế kỷ XX, người ta đã phát hiện tấm bia khắc chữ Phạn ghi rõ tháng 814 tương ứng với năm 892 (sau CN) ở cạnh tháp.
Khi chưa được trùng tu, đứng từ xa, trông ngôi tháp có khối hình trụ đứng sừng sững giữa rừng cây, trên một doi đất, chân tháp hình chữ nhật, một cạnh dài 5,6m; cạnh kia dài 6,9m, cao 8,9m với dáng vẻ cổ kính. Ngôi tháp một phần bị rong rêu phủ, còn lại nhiều chỗ gạch loang lỗ khuyến sâu vào gần bên trong lòng tháp bởi thời gian dài chịu ảnh hưởng của mưa nắng. Tháp cổ Vĩnh Hưng mang những đường nét kiến trúc rất lạ, ở Nam bộ chưa có một nơi nào giống hoặc gần giống như vậy. Tuy nhiên, tháp có cấu trúc khá đơn giản, có một gian hình chữ nhật, tường dày, nóc cao uốn thành vòm với một cửa chính.
Về kỹ thuật chế tác gạch và cấu trúc kết dính gạch với nhau không có khoảng đệm ở giữa. Ngày nay, trong xây dựng người ta dùng chất liệu kết dính bằng xi măng hoặc trước đó dùng vôi vữa, nhưng ở đây người xưa đã có kỹ thuật xây dựng hết sức độc đáo mà các nhà khoa học bây giờ vẫn chưa lý giải thống nhất – họ dùng chất kết dính có nguồn gốc thực vật, hay áp dụng phương pháp mài những viên gạch gạch chưa nung xếp chồng lên thành hình ngôi tháp, xong mới phủ rơm và đất nung gạch, hay là dùng một kỹ thuật nào khác… Về phần thân tháp thì gạch xây ở đoạn dưới có màu đỏ còn đoạn trên có màu rắng, có lẽ khi trùng tu người ta đã dùng những loại gạch của những thời kỳ lịch sử khác nhau.
Trong tháp có một bàn tay tượng thần bằng đồng; một phần thân dưới của tượng nữ thần; tượng nữ thần bằng đá xanh; tượng nữ thần Brahma mặt bằng đồng; đầu tượng Phật bằng đồng..., một số vật thờ khác. Bên ngoài sân, chung quanh tháp cũng có nhiều di vật lộ thiên bằng sành sứ… Năm 1992, trong lần khai quật đầu tiên, một số cổ vật liên quan đến đời sống Phật giáo và những di vật có liên quan đến di tích văn hóa Óc Eo đã được phát hiện. Đến giữa tháng 9 năm 2011, tỉnh Bạc Liêu quyết định khai quật lần thứ 3. Sau một tháng, đến ngày 17 tháng 10 việc khai quật tháp cổ Vĩnh Hưng Bạc Liêu do Trung tâm Nghiên cứu khảo cổ đảm nhiệm phần chuyên môn dưới sự giám sát của Bảo tàng tỉnh Bạc Liêu đã kết thúc. Trong lần khai quật này cũng thu được nhiều di vật giá trị của các thời kỳ văn hóa. (Các di vật đang được Bảo Tàng tỉnh Bạc Liêu bảo quản).
Mỗi năm cứ đến rằm tháng Giêng âm lịch, chùa Phước Bửu đều tổ chức lễ Thượng ngươn, hàng ngàn đồng bào Phật tử và thập phương bá tánh đã tề tựu về đây bái Phật cầu gia hộ. Trong quần thể di tích chùa tháp Vĩnh Hưng, trong đó ngôi tháp có giá trị về mặt lịch sử, ngôi chùa có giá trị về mặt tâm linh, đa số du khách đến đây để chiêm bái hơn là để tham quan du lịch, nhưng trên thực tế chùa Phước Bửu còn quá nhỏ nếu so với tầm vóc ngàn năm của ngôi tháp, vì vậy chúng tôi đề xuất Nhà nước và các ngành hữu quan có kế hoạch nâng cấp chùa Phước Bửu như tạo quỹ đất rộng hơn, xây dựng chùa lớn hơn để có một cảnh quan vừa hài hòa, vừa đẹp để thu hút du khách trong và ngoài nước, đồng thời để phục vụ quần chúng nhân dân một cách thiết thực hơn.
II. CỔ NHẠC BẠC LIÊU CÓ MỐI QUAN HỆ MẬT THIẾT VỚI PHẬT GIÁO
Cổ nhạc Bạc Liêu là một loại hình văn hóa phổ thông, hiện nay đã có một vị trí rất đặc biệt ở Nam bộ, riêng bản Vọng cổ còn đang vươn xa đến các nước trên thế giới. Đây là một vấn đề rất cũ, có nhiều người biết, nhưng có một vấn đề chưa được nghiên cứu đến, đó chính là Mối quan hệ của cổ nhạc Bạc Liêu và Phật giáo. Một số vấn đề cần nên bàn luận như sau:
Nhân vật được đề cập trước nhất là Nhạc Khị, người đã được giới cổ nhạc tôn xưng là Hậu tổ, ông là thầy của Cao Văn Lầu, Trịnh Thiên Tư, Mộng Vân, Ba Chột, Tư Bình… ông đã đào tạo một lực lượng nghệ nhân, nghệ sĩ ưu tú cho phong trào Đàn ca tài tử và Cải lương Nam bộ, nhưng ít người biết ông đã đào tạo những đồ đệ nổi tiếng này từ những thập niên đầu thế kỷ XX tại chùa Vĩnh Phước An, phường 2 thành phố Bạc Liêu.
- Người thứ hai là Sư Nguyệt Chiếu, người đã đặt tên cho bản Dạ cổ hoài lang, ông có công lớn trong việc chỉnh tu và hệ thống bài bản Nhạc lễ cổ truyền, cũng chính là người đào tạo ra Năm Nghĩa, Sanh Xía, Ba Khuê… tại chùa Vĩnh Đức; đây là những nghệ sĩ từng một thời nổi danh.
- Một người có giọng ca bằng vàng, từng được gọi là đệ nhất danh ca trong những năm đầu thế kỷ XX đó là nghệ nhân Bảy Kiên, ông nguyên là một tu sĩ ở chùa Vĩnh Hòa pháp danh là Chơn Thành.
- Ông Cao Văn Lầu, tác giả bản Dạ cổ hoài lang, hiện nay là một nhân vật không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà tên tuổi ông còn vang xa ra các nước, nhưng có một điều ít ai biết thuở thiếu thời ông là một chú tiểu ở chùa Vĩnh Phước An, đệ tử của Hòa thượng Minh Bảo, khi sáng tác bản Dạ cổ hoài lang cũng ở ngôi chùa này.
- Nghệ sĩ Năm Nghĩa tên thật là Lư Hòa Nghĩa, vừa là cha vừa là thầy của nghệ sĩ Thanh Nga và Bảo Quốc, ông là người đầu tiên biến đổi bản Dạ cổ hoài lang thành bản Vọng cổ, nhưng bản Vọng cổ đầu tiên lại mang tên Văng vẵng tiếng chuông chùa, sau này khi thu dĩa mới đổi lại thành Vì tiền lỗi đạo, chính bản này Năm Nghĩa cũng sáng tác tại chùa Vĩnh Phước An.
- Danh cầm Ba Chột tác giả bản Liêu Giang, một bản cổ nhạc nổi tiếng ở Bạc Liêu, song song với bản Dạ cổ hoài lang của ông Cao Văn Lầu, bản này cũng được sáng tác tại chùa Vĩnh Phước An.
- Hiện nay mồ mả của ông bà Nhạc Khị, Bảy Kiên, Ba Chột… những bậc tiền bối của cổ nhạc Bạc Liêu đều được chôn cất ở phía sau chùa Vĩnh Phước An.
Đề nghị trong nhiệm kỳ tới chúng ta nên có một công trình khoa học để nghiên cứu thấu đáo mối liên quan giữa Phật giáo và cổ nhạc Bạc Liêu, một vấn đề rất quan trọng trong lịch sử phát triển của Phật giáo tỉnh Bạc Liêu và của Cổ nhạc Nam bộ.
III. NÉT VĂN HÓA TRONG NGÔI NHÀ CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ KHMER
Nhà ở của người Khmer ngày nay về hình dáng, vật liệu kiến trúc cũng gần giống nhà của người Kinh và người Hoa, nhưng ngày trước thì nhà của người Khmer có nhiều điểm khác biệt. Những gia đình Khmer sống trên đất giồng thì nhà thường cất trên mặt đất, còn những người sống ở nơi đất thấp họ phải cất nhà sàn, nhà thường nhỏ nhưng nóc cao, mái rất dốc và thường được lợp bằng lá dừa nước, ở các vùng gần biên giới người ta dùng lá dừa nước chằm lại từng miếng trước khi lợp, người Khmer thường gọi là Slấc đành đóp và người Kinh gọi trại là lá chằm đóp, các vùng khác ở Tây Nam bộ thì dùng nguyên tàu lá chỉ xé dọc làm hai, khi lợp sẽ xếp chồng lên nhau gọi là một đôi, một số nơi còn dùng cây lồ ô xẻ dọc lợp âm dương rất khéo. Về khung sườn nhà của những người Khmer ở miền Đông thường dùng các loại gỗ quí như dầu, chò, thau lau phối hợp với các loại tre, nứa, lồ ô, le, bương... còn đa số những người ở miền Tây thì sử dụng các loại tràm, đước, cóc, dà, lục bình (cây mai), tre gai. Họ dừng vách bằng lá dừa nước, thông thường thì lá bên ngoài sóng bên trong, cũng có một cách dừng vách đâu sóng, theo cách này thì cả vách trong vách ngoài đều thấy toàn sóng còn lá được ém kín ở giữa trông rất đẹp. Nhà lớn thường có hai cái, cái trên cái dưới, mỗi cái ba gian, nhà nhỏ thường một căn một chái cũng gần giống như nhà người Kinh, loại chái bát vần của người Khmer được làm với kỹ thuật khá cao. Người Khmer có một tập quán rất tốt đẹp là họ luân phiên phụ giúp với nhau gọi là vần công cất nhà.
Người Khmer tuy cũng có giàu nghèo cao thấp khác nhau, nhưng cách bày trí xếp đặt bên trong nhà của họ đa số đều gần giống nhau; thường thì nhà trước là nhà khách có một bộ bàn ghế dài (tố, cào ây, tốc tăng) hoặc một bộ ván ngựa (kđa) lớn để ở giữa, hai bên là hai bộ ván ngựa nhỏ hoặc là hai chiếc chỏng tre để đàn ông con trai trong nhà nghỉ ngơi, nếu khi có khách thì nhường cho khách nghỉ, phía sau thường có một hoặc hai chiếc tủ (tu), bên trong đặt những chiếc gối thêu (khnơi) rất đẹp để biểu lộ sự khéo tay của phụ nữ trong nhà. Nhà nào cũng có bàn thờ Phật ở gian chính, đôi khi cũng được đặt trên đầu tủ một cách đơn giản nhưng rất trang trọng. Người Khmer ngày xưa không có phong tục thờ tổ tiên trong nhà nhưng do dung nạp tín ngưỡng của người Kinh, người Hoa nên có một số gia đình người Khmer ngày nay cũng có thờ tổ tiên, họ thờ riêng hoặc thờ chung trên bàn thờ Phật, thường thì ảnh người quá cố được đặt dưới ảnh Phật.
Phía sau phòng khách, nếu nhà khá giả thì ngăn phòng cho vợ chồng chủ nhà (bành túp), phòng con cái, nhất là con gái luôn có phòng riêng (bành túp khnông côn kro mum), nếu nhà nghèo cũng che một góc cho con gái. Người Khmer thường nằm quay đầu về hướng Nam, vì hướng Nam người Khmer gọi là tức skhang tabôn, cho đó là hướng ngọc (tabôn) và ít khi nào hướng chân người này đạp lên đầu người kia vì họ luôn tin rằng trên đầu của mỗi người đều có thần thánh ngự trị. Sau cùng là nhà dưới, bếp và bồ lúa được đặt ở đây, nếu gia đình không có nhà dưới thì bếp được đặt ở chái nhà. Nhà tắm thì luôn được đặt ngoài hè hoặc phía sân sau.
Tuy hiện nay trong các phum sóc vùng sâu vùng xa cũng còn có nhiều nhà lá, nhưng những căn hộ gần chợ hoặc ở cặp lộ, ven sông đa số đều được xây bằng gạch ngói; còn nhà sàn, nhà cao cẳng đã bớt dần, thậm chí có nơi không còn thấy, hầu như đã thay bằng những căn nhà được xây dựng trên nền đất. Nhưng dù là nhà lá hay nhà gạch của người Khmer cũng đều có sự thay đổi rất lớn, đặc biệt bộ phận nóc không còn nhọn như ngày xưa, mỗi căn hộ đều được xây dựng theo hình chữ Đinh, hoặc trước sau đâu mái, cửa nẻo thì làm chắc chắn chớ không bỏ ngỏ như ngày xưa... có một số nhà còn xây cất theo các kiểu Âu Mỹ. Nhưng cho dù các loại nhà cửa có thay đổi bề ngoài theo trào lưu tiến hóa thì sự bày trí bên trong vẫn giữ được dáng dấp cổ xưa, từ cái bàn thờ Phật đến cái bộ “đi văng”, tủ chưng ly, chưng gối, ghế bàn tiếp khách và cả những chiếc chỏng tre trong nhà đều được đặt theo những vị trí cố định. Ngôi nhà người Khmer hiện nay dù có thay đổi ít nhiều, nhưng vẫn thể hiện được nét văn hoá đặc thù của mình, vẫn giữ gìn được truyền thống tốt đẹp đã lưu truyền từ nhiều thế kỷ qua.
IV. QUÁN ÂM PHẬT ĐÀI – ĐỊA ĐIỂM VĂN HÓA TÂM LINH TIÊU BIỂU Ở BẠC LIÊU
Một nơi có sức thu hút lớn nhất ở Bạc Liêu đối với khách hành hương, du lịch chính là Quán Âm Phật Đài, một điểm du lịch mang màu sắc văn hóa Phật giáo tọa lạc trên bờ biển Bạc Liêu. Số lượng du khách từ các nơi về đây chiêm bái những năm gần đây đều trên dưới bốn trăm ngàn lượt người.
Đây là một công trình văn hóa tâm linh nổi bật nhất ở Bạc Liêu. Thánh tượng Bồ tát Quán Thế Âm đã được khởi công xây dựng từ năm 1973 do chủ trương của Ban Đại diện Phật giáo tỉnh Bạc Liêu (ngày nay gọi là Ban Trị sự Phật giáo tỉnh), lúc đó Hòa thượng Thích Trí Đức làm Chánh Đại diện đã chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình thực hiện; do khéo léo vận động của Hòa thượng và các thành viên Ban Đại diện nên suốt thời gian xây dựng đã được sự tham gia đóng góp nhiệt tình của bà con Phật tử và các nhà hảo tâm xa gần, nhất là Bác sĩ Nguyễn Tú Vinh (Hội trưởng Hội Hồng Thập Tự thời điểm đó) đã đóng góp một phần công sức rất lớn. Thánh tượng cơ bản hoàn thành vào đầu năm 1975, tượng cao mười một mét (chưa kể chân đế), đứng sừng sững bên bờ biển Đông thuộc khu vực ấp Nhà Mát, xã Hiệp Thành (nay là phường Nhà Mát, thị xã Bạc Liêu), mặt xoay ra biển. Lúc mới xây dựng, tượng đài được đặt sát mé biển, khi thủy triều lên nước biển tràn vào có lúc ngập cả chân đế, nhưng tới nay do sự bồi đắp của thiên nhiên, vị trí đặt tượng đài đã cách biển gần bốn ngàn mét. Tượng đài tuy giản đơn, nhưng cảnh quan rất hùng vĩ và trang nghiêm dễ gây sự chú ý và ngưỡng mộ cho mọi người, đã đáp ứng một phần lớn nhu cầu tín ngưỡng cho ngư dân ở đây, nhất là những người thường đánh bắt xa bờ. Tượng Bồ tát còn làm thêm nhiệm vụ “làm ngọn hải đăng” cho những người đi biển.
Đến năm 1995, Ban Đại diện Phật giáo thị xã Bạc Liêu được chính quyền cho phép trùng tu chân đế của tượng đài. Từ đó đến nay, đồng bào Phật tử và du khách đến chiêm bái càng lúc càng đông, để đáp ứng nhu cầu tham quan du lịch của du khách và thể hiện chủ trương về bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tỉnh nhà, năm 2004 UBND tỉnh Bạc Liêu đã phê duyệt dự án và cho phép Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu xây dựng Quán Âm Phật Đài trên diện tích 2.500.000m2 chung quanh vị trí cũ của tượng đài với nhiều hạng mục khác nhau.
Mặc dù vậy các ngày lễ người ta đến chiêm bái và tham quan thật đông đúc, nhất là vào lễ vía Quán Thế Âm trong ba ngày 19 tháng 2, 19 tháng 6, 19 tháng 9 âm lịch và trong ba ngày vía Bà 22, 23, 24 tháng 3 âm lịch hàng năm người ta đến rất đông, không những người địa phương mà người các tỉnh khác kể cả du khách và Phật tử ở một số tỉnh xa từ miền Trung, miền Bắc cũng có mặt. Quan cảnh tham quan, chiêm bái thật vô cùng náo nhiệt. Từ con đường phía trước cổng cho đến con đường dẫn vào tượng đài, người ta vô cùng đông đúc, như một dòng người tấp nập tới lui luân chuyển cả ngày đêm, nhất là về đêm số lượng người càng gia tăng nhiều hơn nữa. Du khách đến chiêm bái Quán Âm Phật Đài càng lúc càng đông nên các dịch vụ ở đây cũng rất đa đạng, từ quán hàng ăn uống, xe đưa đón, khách sạn, nhà trọ, mua bán tranh ảnh nghệ thuật, quà lưu niệm…
Đặc biệt năm 2008, có chủ trương của UBND tỉnh Bạc Liêu với sự hỗ trợ của các ban ngành địa phương đối với việc tổ chức lễ hội, nên Quán Âm Phật Đài lại càng được sự chú ý của du khách hơn. Thực hiện tinh thần này, Hòa thượng Thích Huệ Hà - Trưởng ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu đã chỉ đạo Ban Văn hóa và Ban Nghi lễ Tỉnh hội soạn thảo một chương trình lễ hội ba ngày 22, 23, 24 tháng 3 âm lịch để phục vụ đồng bào Phật tử và khách hành hương.
Du khách chắc chắn sẽ hài lòng khi đến Quán Âm Phật Đài Bạc Liêu, vừa để tham quan chiêm bái thánh tượng, thưởng thức cảnh quan tuyệt vời của một vùng trời biển bao la, vừa để tìm hiểu lễ hội Quán Âm Nam Hải một lễ hội Phật giáo nhưng mang đậm màu sắc văn hoá truyền thống dân tộc Việt Nam.
Quán Âm Phật Đài xây dựng chưa xong mà lại có kết quả khả quan đến thế, chắc rằng trong tương lai nơi đây sẽ trở thành một điểm du lịch lớn của miền Tây Nam bộ. Văn hóa tâm linh thật sự là một món ăn cần thiết trong đời sống con người, nhất là trong du lịch lại là một yếu tố quan trọng trong vấn đề phục vụ và thu hút du khách. Quán Âm Phật Đài Bạc Liêu chỉ mới ra đời trong một thời gian ngắn lại ở một tỉnh lẻ cực Nam, nhưng nếu nói về thành quả ban đầu về số lượng du khách thì cũng có thể so sánh với Phổ Đà Sơn trong giai đoạn hình thành. Phổ Đà Sơn lúc chưa phát triển thì cũng chỉ là một hòn núi vô danh trên một đảo nhỏ ở phía Nam Trung Quốc, nhưng từ khi người ta xây dựng tượng đài Quán Thế Âm thì nơi đây mau chóng chuyển mình từ một nơi hoang vu không người qua lại chẳng mấy chốc đã trở thành một trong Tứ đại danh sơn Phật tích của Trung Quốc, một điểm du lịch nổi tiếng khắp năm châu, đã góp phần với ngành du lịch đem ngoại tệ về cho quê hương, làm giàu cho đất nước. Hy vọng rằng Quán Âm Phật Đài Bạc Liêu trong tương lai sẽ thừa kế thành quả này để trở thành một Phổ Đà Sơn thứ hai – một địa danh Phật tích của miền Duyên hải – một địa chỉ du lịch tuyệt vời ở miền cuối nước Việt Nam.
V. TÍN NGƯỠNG QUÁN THẾ ÂM CỦA NGƯỜI KHMER
Tín ngưỡng về Quán Thế Âm ở Việt Nam chỉ có trong Phật giáo Đại thừa (Bắc tông), các hệ phái Nam tông không có, nhưng tại xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi tỉnh Bạc Liêu, người Khmer đã xây dựng một salatel (Niệm Phật đường theo kiến trúc của người Khmer), phía trước sân có xây dựng một thánh tượng Bồ tát Quán Thế Âm rất uy nghi, có lẽ đây là nơi duy nhất ở Nam bộ, người Khmer đã đã tôn thờ Quán Thế Âm như một vị thần bảo vệ xóm làng.
Loại tín ngưỡng này cũng gần giống như tín ngưỡng Quan Âm của người Kinh và người Hoa ở Việt Nam, chỉ khác là vào ba ngày vía Quan Âm trong năm (19/2; 19/6; 19/9 âm lịch) ở đây không tổ chức lễ, mà chỉ tập trung lễ bái vào các buổi lễ cầu an, làm phươc… mà thôi. Đứng đầu salatel là một Ban Quản trị trong đó đa số là acha (những người xuất tu) để điều hành công việc, cũng gần giống như Ban Quản trị của các đình người Kinh hay miếu của người Hoa. Bà con Khmer ở các thôn xóm đã đến lễ bái đông đúc mỗi lần lễ, vía. Có một điều rất đặc biệt là trong những người đến dâng hương cầu an cầu phúc lại có cả người Kinh và người Hoa. Tuy mỗi dân tộc đều có tín ngưỡng đặc thù, mỗi người đều có lòng tin với thước đo khác nhau, lễ vật dâng cúng của họ cũng tùy theo hoàn cảnh kinh tế gia đình và tập quán của mỗi dân tộc, nhưng họ cùng đến đây lễ bái Bồ tát như những đứa con từ các hướng khác nhau cùng về thăm mẹ hiền để cầu cho gia đình được no cơm ấm áo và làng xóm được thịnh vượng bình an.
Đối với Phật giáo Nam tông thì chỉ có đàn ông mới được xuất gia tu ở chùa, còn phụ nữ không được xuất gia làm ni cô như các phái Bắc tông, mà chỉ được học những điều Phật dạy từ những vị sư để tự mình tu tập. Trong chính điện của chùa Khmer cũng chỉ thờ duy nhất có Phật Thích Ca, không thờ hình tượng các vị Phật khác, các Bồ tát với hóa thân nữ lại càng không có. Vậy mà ở đây, từ xa nhìn vào người ta đã thấy rõ ràng là một Salatel – một kiến trúc tín ngưỡng thuần túy của người Khmer, nhưng lại có sự hiện diện của Bồ tát Quán Thế Âm qua hình dáng của một người phụ nữ. Tuy đây chỉ mới là một hình tượng đơn độc, chưa được phổ biến rộng, nhưng cũng đủ nói lên ý nghĩa cách tân tín ngưỡng thật tốt đẹp, đã nâng cao vai trò và vị trí của người Phụ nữ Khmer trong xã hội hiện nay, đồng thời qua đó đã thể hiện sự hòa nhập văn hóa của một cộng đồng dân tộc và thể hiện tình đoàn kết gắn bó của các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer ở Bạc Liêu. Thiết nghĩ một mô hình tín ngưỡng có ý nghĩa tốt đẹp như thế cần nên nhân rộng ra để phục vụ cộng đồng tích cực hơn.
VI. VĂN HỌC DÂN GIAN KHMER CÓ NGUỒN GỐC TỪ PHẬT GIÁO
Người Khmer Nam bộ thật sự đã có một kho tàng văn học dân gian rất lớn, bao gồm nhiều thể loại như truyện cổ tích (rương prêng), thần thoại (rương boran), tục ngữ (sô phia sách), bài ca (châm riêng)..., các thể loại này được chia làm hai loại lớn, là văn xuôi (peak sâmrai) và văn vần (kâm nap). Về văn xuôi cũng có hai thứ văn viết và văn nói. Nhưng thế mạnh trong văn học dân gian của người Khmer Nam bộ vẫn là văn nói, thể hiện rõ nhất trong văn nói là hai loại truyện kể Cổ tích và thần thoại. Thực ra các loại truyện kể này có nguồn gốc từ các sách chép trên lá sătra slấc rít (cọ), lá sătra (thốt nốt) nhưng được lưu hành trong dân gian bằng hình thức truyền khẩu.
Về cổ tích thì đa số mang màu sắc Phật giáo, nội dung cốt truyện thường dạy con người làm lành lánh dữ, đa số các truyện cổ tích đều nhằm nhắc nhở làm ác gặp ác, làm thiện gặp thiện, con người hiền lành dù có bị hãm hại hay bị tai bay họa gởi nhưng cuối cùng vẫn bình an, cuối cùng cái thiện luôn thắng cái ác. Các tích truyện thường nói về thân phận con người trong mọi hoàn cảnh khác nhau với những tình tiết rất sinh động, đôi khi những nhân vật trong truyện lại là những con vật quen thuộc với mọi người như thỏ, cáo, gà, khỉ, cọp, voi... cho thêm phần hấp dẫn; có một điều giống nhau là đa số các truyện cổ tích đều kết thúc bằng các hình thức thưởng thiện phạt ác và kết thúc luôn có hậu làm cho người nghe rất hài lòng. Truyện cổ tích Khmer rất phong phú về nội dung và dồi dào về số lượng với nhiều đề tài có ý nghĩa, các nghệ nhân Khmer phân ra làm nhiều loại: Chuyện xưa tích cũ, ngụ ngôn, truyện kể về thú vật và truyện cười.
Truyện ngụ ngôn được phát triển rất lớn vì Phật giáo có lối giảng đạo cho người bình dân bằng cách kể truyện có ẩn dụ để thay cho những bài giáo lý khô khan khó hiểu. Các nhà sư thường dùng những hình tượng cụ thể trong văn học thay thế cho những khái niệm trừu tượng trong triết học để dễ dàng truyền bá giáo lý Phật giáo đến mọi người, lâu dần đã thành những câu truyện kể quen thuộc trong dân gian. Các truyện nói về loài vật thì mỗi loài được nhân cách hóa và điển hình cho mỗi trường hợp trong cuộc sống khác nhau, riêng hình tượng con thỏ đã được gắn vào nhiều truyện cổ tích xa xưa và người Khmer cũng rất chú ý đến hình tượng con vật này. Một số lớn người Khmer đều nghĩ rằng thỏ là loài vật tinh khôn, đẹp về thân thể, tinh khiết về tinh thần, từng là tiền thân của đức Phật đã có lần hy sinh thân mạng để cứu người khác, người ta đã khai thác triệt để ý nghĩa hy sinh cao cả này trong các truyện kể dân gian. Ngòai ra, khỉ và voi cũng là những hình tượng thường được nhắc đến.
Trong các loại hình truyện kể dân gian có một loại cũng rất được mọi người thích thú đó là truyện cười. Người Kinh có nhân vật Trạng Quỳnh là một người đã từng dùng trí khôn của mình làm điên đảo phủ Chúa và đã từng làm cho những người ăn trên ngồi trước này phải nhiều phen thất điên bát đảo; thì ở đây trong truyện cười của người Khmer cũng có nhân vật Thnênh Cheay đã từng có nhiều thành tích làm đảo điên “luật nhà phép nước” phong kiến lỗi thời và những bọn “cao quan hậu lộc” của các thời ấy phải nhiều phen cười ra nước mắt, nhưng cũng không làm gì ông được.
Truyện thần thoại của người Khmer cũng có khối lượng rất lớn được thể hiện rõ nhất bằng cách truyền khẩu và qua các tác phẩm điêu khắc, hội họa ở chùa hoặc ở các công trình công cộng; cứ mỗi một hình tượng là có mỗi thần tích với những ý nghĩa thật sâu xa. Phổ thông nhất trong truyện thần thoại Khmer là truyện Đầu thần bốn mặt, trên đỉnh các nóc chùa Khmer đều có đặt tượng đầu của một vị thần có đến bốn mặt nhìn ra bốn bên, biểu tượng này gắn với một lễ nghi quan trọng trong ngày đầu của tết Chuôl Chnam Thmay, đó là lễ rước Maha Sângkran, lễ rước ấy có liên quan đến một câu chuyện thần thoại. Nội dung truyện thần thoại này đã nêu lên ý nghĩa sự chiến thắng của con người đối với vị thần có nhiều quyền năng và kiêu ngạo, sự chiến thắng của trí thông minh, của trí tuệ loài người đối với sức mạnh của thiên nhiên và các uy lực huyền bí. Trong các ngôi chùa Khmer, người ta còn thấy biểu tượng Reahu với chiếc đầu to mồm rộng, răng nhe, mắt trợn, hai tay nắm mặt trời đưa vào mồm chực nuốt. Biểu tượng này cũng có nguồn gốc từ một truyện thần thoại rất quen thuộc trong dân gian. Truyện này phản ánh sự nhận thức của con người thời cổ về các hiện tượng tự nhiên như giông bão, gió trốt, thủy triều lên xuống, nhật thực, nguyệt thực…, tất cả đều do một năng lực huyền bí gây nên. Ngoài ra, còn rất nhiều truyện thần thoại khác, mỗi truyện đều mang một ý nghĩa đặc biệt và phản ảnh một đôi phần về các sinh hoạt và tín ngưỡng cổ xưa.
Trong văn học dân gian Khmer, loại văn vần cũng không kém phần phong phú như các loại văn xuôi, có thể nói còn hấp dẫn hơn bởi tính trữ tình của nó. Gọi chung là thơ ca dân gian nhưng trong đó bao gồm rất nhiều loại của nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, có cả ca hát (châm riêng), hò đối đáp (a dăy), tục ngữ ca dao (sphoeaset), dân ca (chòm riêng pro chia prây) và các bài thơ ngụ ngôn, trào phúng, châm biếm…
Người Khmer Nam bộ ngoài những sinh hoạt có tính chất tôn giáo, tín ngưỡng còn có những sinh hoạt về văn học nghệ thuật rất đa dạng và phong phú, nhất là văn học dân gian đã có một kho tàng lớn ở Nam bộ, ở đây có rất nhiều truyện cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn, truyện cười, ca dao, tục ngữ, nói lái, câu đố… nhưng chỉ có một số được ghi chép trên lá thốt nốt, còn phần lớn là do truyền miệng dân gian. Văn học dân gian của người Khmer cũng như văn học dân gian của các dân tộc anh em khác trong nhiều năm qua đã thật sự góp phần làm phong phú và khởi sắc thêm kho tàng văn học dân gian Nam bộ. Thiết tưởng nên có kế hoạch bảo tồn những tác phẩm đã được các nghệ nhân năm xưa viết trên lá cọ, lá thốt nốt hiện đang được lưu giữ ở các chùa của người Khmer, vì có một số đã và đang bị hư mục do đã trải qua một thời gian quá lâu và thiếu điều kiện bảo quản; song song bên cạnh đó những tác phẩm văn học dân gian như những truyện thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn, dân ca, hò vè, bài hát… đã và đang đựơc người Khmer lưu giữ bằng cách truyền miệng cho nhau từ đời này sang đời khác rất dễ bị sai lệch nội dung ban đầu, cũng nên tiến hành dịch thuật và phổ biến rộng rãi để phục vụ những yêu cầu cần thiết và để bảo tồn những sản phẩm văn hoá truyền thống ở các địa phương.
Ngoài những đặc điểm văn hóa nêu trên, Phật giáo Bạc Liêu còn nhiều đặc điểm khác như Phật giáo hóa trong tín ngưỡng dân gian của người Kinh, người Hoa; Sự hội tụ văn hóa Pháp, Việt, Hoa trong kiến trúc chùa Giác Hoa; Đặc điểm kiến trúc hình chữ quốc trong các đền, miếu, chùa người Hoa; Nghệ thuật tạc tượng Phật bằng gỗ ở chùa Vĩnh Phước An… Mỗi một đặc điểm văn hóa ở đây đều là những đề tài nghiên cứu vô cùng phong phú.
KẾT LUẬN
Bất cứ sự hiện diện của một nền văn hóa nào cũng đều phải tích hợp nhiều yếu tố như thời gian, dân trí, nhu cầu xã hội… Văn hóa Phật giáo Bạc Liêu đã có mặt từ những ngày đầu khai mở đất và song song phát triển cùng với sự phát triển của dân tộc theo suốt chiều dài lịch sử tỉnh nhà đã hội tụ nhiều yếu tố, vì vậy văn hóa Phật giáo Bạc Liêu mới có những điểm đặc thù như đã nêu trên. Hiện nay Nhà nước đã có chủ trương bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống, bởi thế mỗi một loại hình văn hóa dù là văn hóa vật thể hay phi vật thể cũng nên có kế hoạch phát huy để góp phần xây dựng chung cho văn hóa dân tộc mỗi ngày thêm tốt đẹp hơn.
Trong phần kết của bài tham luận, ngoài những điểm vừa nêu, chúng tôi mạn phép trình bày thêm một vài vấn đề để cùng nhau bàn bạc:
1. Về kiến trúc chùa Bắc tông ở Việt Nam hiện nay. Kiến trúc thật đa dạng, gần như mỗi ngôi chùa là một kiểu khác nhau. Thiết tưởng chúng ta nên có một kiểu mẩu thống nhất khi xây dựng chùa như một số cơ sở thờ tự của các tôn giáo bạn. Chỉ nên khác nhau về độ lớn nhỏ và nên giống nhau về kiểu dáng.
2. Về đọc, tụng, dịch kinh nên thống nhất về phát âm. Thí dụ câu “Nam mô A Di Đà Phật” có người đọc “Nam mô A Mi Đà Phật” thậm chí người ta chỉ đọc “A Mi Đà Phật”, hay là “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” có người đọc “Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni”… Đề nghị Giáo hội nên có sự chỉ đạo thống nhất về vấn đề này./.



























