Những đóng góp của GHPGVN về mặt quan hệ Quốc tế
Những đóng góp của GHPGVN về mặt quan hệ Quốc tế
Những đóng góp của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam về mặt quan hệ Quốc tế
thông qua áp dụng Triết lý hành động của Đại sư Khuông Việt
trong chính sách chính trị - ngoại giao quốc tế
Giác chinh – Trần Đức Liêm
A. Dẫn luận
Ảnh hưởng của Phật giáo trong quá trình phát triển xã hội Việt Nam là điều mà xã hội Việt Nam, lịch sử tư tưởng Việt Nam và con người Việt Nam – dân tộc Việt Nam đã ghi nhận. Khi khảo cứu về vị trí, vai trò và những đóng góp của Khuông Việt Đại Sư và Phật giáo Việt Nam đối với những vấn đề như Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc; Ảnh hưởng của Phật giáo đến đạo đức, lối sống của người Việt Nam; Vai trò của Phật giáo trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc; v.v..là điều tất yếu của khảo luận tri thức và khoa học xuyên suốt cho đến thời đại chúng ta hiện nay.
Bởi lẽ, Phật giáo Việt Nam đã ảnh hưởng đến lịch sử Việt Nam đầu kỷ nguyên độc lập một cách sâu sắc và đầy sức ổn định. Với vai trò và những đóng góp cụ thể của Phật giáo, nhất là các thiền sư trên các bình diện chính trị, ngoại giao, tư tưởng, văn hoá và tôn giáo, v.v. là việc làm cần thiết và hết sức ý nghĩa.
Do vậy, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đề ra chương trình năm 2011 là năm Giáo hội có nhiều sự kiện lớn kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1981 – 2011) là một hoạt động khoa học và Phật sự quan trọng trong chuỗi chương trình đã được Trung ương Giáo hội thông qua.
B. Chánh luận
Khảo cứu tri thức tức là khảo luận logic và khoa học, mục đích làm sáng tỏ những đóng góp cụ thể, chân thật và hết sức cao đẹp của các bậc tiền hiền, của anh hùng dân tộc…tức là của những giá trị nhân bản nhân văn thiêng liêng nhất của Phật giáo Việt Nam – GHPGVN, đất nước Việt Nam trong xuyên suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, của đất nước cho đến thời đại của chúng ta ngày nay.
Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, trên 30 năm Đại sư Khuông Việt[1] đã phục vụ trong các chánh quyền của Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành đã thể hiện được tài năng nhiều mặt của mình. Sự cống hiến to lớn đáng ghi nhận không chỉ trong lĩnh vực sinh hoạt Phật giáo mà cả trong lĩnh vực chính trị và ngoại giao của đất nước. Sự luân chuyển – chuyển giao quyền lực qua các đời Khúc Hạo, Dương Đình Nghệ, Kiều Công Tiễn, Ngô Quyền, Dương Tam Kha, Hậu Ngô Vương, loạn 12 sứ quân, cho đến Đinh Liễn, Lê Hoàn trong quãng thời gian từ năm 907 đến 980 (dài 73 năm) có thể coi là một biểu hiện cát cứ địa phương.
Tuy nhiên, điểm lại vài khuôn mặt trí thức của giai đoạn này thì rõ ràng các nhà nghiên cứu bao giờ cũng nêu ra một số vị thiền sư bác học, trong đó người để lại hình tích, thành tích nhiều nhất, người có ảnh hưởng nhất đối với xã hội cũng như các vương triều trên chính là nhân vật mang tên Khuông Việt thiền sư[2], tức Ngô Chân Lưu.
Quốc sư Khuông Việt (933 -1011) vốn dòng dõi Ngô Quyền, thuở nhỏ theo học Nho, lớn lên theo đạo Phật, thuộc thế hệ thứ tư Thiền phái Vô Ngôn Thông, năm 971 được vua Đinh Tiên Hoàng ban hiệu là Khuông Việt đại sư, năm 40 tuổi được phong chức Tăng Thống (đứng đầu Phật giáo cả nước). Quốc sư Khuông Việt là vị Tăng Thống đầu tiên của Phật giáo Việt Nam đồng thời là nhà văn hóa, chính trị, quân sự và ngoại giao dưới hai triều Đinh, Lê.
Ông là nhân vật kiệt xuất của thế kỷ X, là tấm gương hạnh - tuệ tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam trên tinh thần hộ quốc an dân.
Sử sách, các học giả, các nhà nghiên cứu đánh giá về Ngô Chân Lưu có “vị trí đặc biệt trong lịch sử ngoại giao và văn học dân tộc”[3]. Điều này, chứng tỏ nền giáo dục Việt Nam và Phật giáo Việt Nam khi ấy đã thực hiện tốt chức năng đào tạo những người trí thức có khả năng gánh vác không chỉ có công việc của đạo mà cả việc nước việc dân.
Khuông Việt (H. 匡 越) sinh năm 933, tu ở chùa Phật Đà, làng Cát Lợi, Thường Lạc (nay là Vệ Linh, Sóc Sơn, Hà Nội). Nguyên quán ở hương Đường Lâm[4], tên là Ngô Chân Lưu (H. 吳 真 流)[5]. Theo Thiền Uyển Tập Anh, ông là hậu duệ của Ngô Thuận Đế[6], tức Tiền Ngô vương, con Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập (H. 吳 昌 岌), cháu của Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn (H. 吳 昌 文), anh cùng cha khác mẹ của sứ quân Ngô Xương Xí (H. 吳 昌 熾), anh họ của Ngô Nhật Khánh (H. 吳 日 慶) - một sứ quân khác ở đất Đường Lâm.
Khuông Việt, trong thời gian theo học tại chùa Khai Quốc[7], đã được Thiền sư Vân Phong chọn làm người chủ lưu của dòng tư tưởng thiền dòng thiền Pháp Vân.
Tư tưởng chủ đạo trong kinh Kim Cương[8] mà Thiền sư Thanh Biện đã đề xuất đó là “Tất cả pháp đều là Phật pháp” đã được Khuông Việt Đại Sư ứng dụng vào hệ thống chính trị và ngoại giao của Đại Việt; hiện nay nếu tư tưởng chủ đạo này được ứng dụng vào thời đại mới, thời đại của hội nhập (WTO), thời đại của công nghệ và thời kỳ internet rất hữu ích và thiết thực cho chính sách chính trị - ngoại giao của Việt Nam. Tạo sự phát triển hòa hợp, hòa bình và ổn định.
Đại Sư đã vận dụng phương pháp “tạo ra được sức mạnh dân tộc”,”sức mạnh xã hội”. Bởi vì, người có trách nhiệm với lịch sử ngoài việc phải đồng cam cộng khổ với dân, còn phải nhận thức được vai trò quan trọng của dân: “Dân là gốc của nước, được dân thì được nước, Triều đình là thuyền, dân là nước, nước chở thuyền nhưng cũng làm lật thuyền”….Từ đó phải có một chính sách sao cho quy tụ được lòng dân.
Xuất phát từ phương pháp luận và học lý “tất cả pháp đều là Phật pháp” như thế, người ta mới có thể dễ dàng ung dung tham dự vào mọi sinh hoạt của cuộc đời, coi sự hoàn thành việc đời như một chứng tích cho sự hoàn thành việc đạo. Người ta không thể tìm có một thế giới giác ngộ nào khác bên ngoài cuộc đời này. Do vậy, chính sinh khí này của Khuông Việt đã thổi vào lòng dân tộc và đất nước được bình ổn và phát triển ổn định độc lập, dân chủ và tự cường.
Triết lý hành động của Khuông Việt quốc sư dựa trên một nhận thức luận coi cuộc đời là nơi mình có thể giải thoát được bằng chính nhận thức của mình.
Tinh thần khế lý – khế cơ theo triết học Phật giáo, nhấn mạnh thế giới giác ngộ cũng như hành động của Phật giáo không nằm bên ngoài cuộc đời, và con người không cần đi tìm bất cứ một thế giới nào khác. Điều này giải thích cho ta tại sao Khuông Việt đã ung dung tích cực tham gia vào việc nước việc dân và có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp bảo vệ độc lập của tổ quốc.
Đạo người là một phương diện được nhà tư tưởng Khuông Việt hết lòng chú ý. Dựa vào đạo Nho và đạo Phật để vạch cho con người một đạo đối xử và ăn ở. Ở đó, thể hiện tư tưởng tôn ti trật tự của thời đại nhằm bảo đảm sự ổn định của chế độ đương thời. Nhưng mặt khác, qua các nhà tư tưởng có trách nhiệm với thời cuộc, những khái niệm trung hiếu, nhân nghĩa, cương thường…của Nho, thiện ác, họa phúc..của Phật được vận dụng và phát huy theo chiều hướng tích cực, thể hiện một quan niệm và một thái độ yêu nước, kính trên nhường dưới, có hiếu với cha mẹ, có nghĩa với mọi người, có kỷ cương trật tự trong xã hội.
C. Kết luận
Năm 1975, hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, giang sơn nối liền một dãy, Bắc Nam sum họp một nhà. Năm 1981 lịch sử, cơ duyên hội đủ tất cả các tổ chức, Hệ phái Phật giáo Việt Nam đã thực hiện sự nghiệp thống nhất Phật giáo cả nước, từ ngày 04 – 07/11/1981, tại chùa Quán Sứ - Thủ đô Hà Nội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) chính thức được thành lập.
Từ đó, GHPGVN đã ổn định vững bước trong bối cảnh mới, bối cảnh của sự độc lập, tự do và hạnh phúc chung cho giáo hội và tổ quốc.
Cho nên, lịch sử đã đi đến kết luận rằng, Đại sư Khuông Việt (933 – 1011) là Quốc sư – Tể tướng, là nhà văn hoá, nhà chính trị – ngoại giao – quân sự kiệt xuất của thời đại.
Khi đã rời nhiệm vụ Tăng thống và những chính sự khác, Đại sư đã trở về mở trường ở chùa Thanh Tước núi Du Hý của quận Thường Lạc. Nuôi dưỡng hiền tài là nguyên khí của quốc gia, Khuông Việt Đại sư đã nung đúc và đã đào tạo được người kế thừa sau đó có ảnh hưởng đến sự việc lên ngôi của Lý Công Uẩn; đó là thiền sư Đa Bảo, là học trò đại diện sau cùng và cũng là sự sáng ngời từ Khuông Việt để gây dựng cơ nghiệp đất nước về sau của nhà Lý.
Ghi chú:
Chữ viết tắt:
S. = tiếng Sanskrit
H. = tiếng Hán
Chú thích:
(1) Thiền Uyển Tập Anh, ghi nguyên văn là Ngô Thuận Đế. Trong sách in chú thích Thuận Đế chính là Tiền Ngô Vương Quyền. Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam thì sư Khuông Việt vốn tên là Xương Tỷ, con Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập.
(2) HT. Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, Thành hội Phật giáo TP. HCM ấn hành, 1995.
(3) Lê Mạnh Thát. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tập II - Từ Lý Nam Đế (544) đến Lý Thái Tông (1054), Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 2001, tr.452.
(4) Sđd, Thiền Uyển Tập Anh, Vĩnh Thịnh 11.
(5) Nguyễn Huệ Chi, Từ Điển Văn Học, Nxb Thế giới, 2005.
(6) Hoàng Văn Lâu, Đi tìm địa chỉ Ngô Chân Lưu, Tạp chí Hán Nôm, số 1 (26), 2006.
(7) Tây Hồ Chí, phần về Cổ tích, ghi: Chùa Khai Quốc ở tại bờ sông Nhị hà, phía bắc của hồ (Tây), nay là bến Yên phụ mé ngoài đê. Nguyên vì Nam Ðế nhà Tiền Lý nhân nền cũ của chùa An trì của triều Hồng Bàng, mà dựng lên, nên có tên Khai quốc. Sau danh tăng triều Ngô là Nguyễn Vân Phong người Từ Liêm tu bổ lại. Trong khoảng hai triều Ðinh và Lê, Quốc sư Ngô Chân Lưu Khuông Việt thường trú trì tại đó. Nhà Lý trùng tu lại. Đến triều Lê Thái Tông thế kỷ 15, chùa được đổi tên là An Quốc.
(8) Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (S. vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra, H. 金 剛 般 若 波 羅 密 多 經), là một bộ kinh quan trọng thuộc văn hệ Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, được lưu truyền rộng rãi vùng Đông Á. Kinh còn mang những tên ngắn khác là Kim Cương Kinh, Kim Cương Bát Nhã Kinh. Ở Việt Nam, kinh còn có tên gọi ngắn là Kinh Kim Cương.
[1] Thiền Uyển Tập Anh, ghi nguyên văn là Ngô Thuận Đế. Trong sách in chú thích Thuận Đế chính là Tiền Ngô Vương Quyền. Theo Phả hệ họ Ngô Việt Nam thì sư Khuông Việt vốn tên là Xương Tỷ, con Thiên Sách vương Ngô Xương Ngập.
[2] HT. Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, Thành hội Phật giáo TP. HCM ấn hành, 1995.
[3] Lê Mạnh Thát. Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tập II - Từ Lý Nam Đế (544) đến Lý Thái Tông (1054), Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 2001, tr.452.
[4] Sđd, Thiền Uyển Tập Anh, Vĩnh Thịnh 11.
[5] Nguyễn Huệ Chi, Từ Điển Văn Học, Nxb Thế giới, 2005.
[6] Hoàng Văn Lâu, Đi tìm địa chỉ Ngô Chân Lưu, Tạp chí Hán Nôm, số 1 (26), 2006.
[7] Tây Hồ Chí, phần về Cổ tích, ghi: Chùa Khai Quốc ở tại bờ sông Nhị hà, phía bắc của hồ (Tây), nay là bến Yên phụ mé ngoài đê. Nguyên vì Nam Ðế nhà Tiền Lý nhân nền cũ của chùa An trì của triều Hồng Bàng, mà dựng lên, nên có tên Khai quốc. Sau danh tăng triều Ngô là Nguyễn Vân Phong người Từ Liêm tu bổ lại. Trong khoảng hai triều Ðinh và Lê, Quốc sư Ngô Chân Lưu Khuông Việt thường trú trì tại đó. Nhà Lý trùng tu lại. Đến triều Lê Thái Tông thế kỷ 15, chùa được đổi tên là An Quốc.
[8] Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh (S. vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra, H. 金 剛 般 若 波 羅 密 多 經), là một bộ kinh quan trọng thuộc văn hệ Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh, được lưu truyền rộng rãi vùng Đông Á. Kinh còn mang những tên ngắn khác là Kim Cương Kinh, Kim Cương Bát Nhã Kinh. Ở Việt Nam, kinh còn có tên gọi ngắn là Kinh Kim Cương.



























