30 năm nhìn lại chặng đường phát triển của GHPGVN
30 năm nhìn lại chặng đường phát triển của GHPGVN
30 NĂM NHÌN LẠI CHẶNG ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN CỦA
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Lê Khánh
Vụ Phật giáo - Ban Tôn giáo Chính phủ
Việt Nam là một nước đa dân tộc, đa tôn giáo, trong đó Phật giáo là tôn giáo được truyền vào sớm nhất (gần 2000 năm). Hiện nay, Phật giáo là tôn giáo có số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự nhiều nhất, phạm vị hoạt động rộng nhất trong nước. Nhìn lại lịch sử Phật giáo Việt Nam cho thấy nhiều bước thăng trầm của Phật giáo Việt Nam, những sự kiện về các cuộc chấn hưng Phật giáo, thống nhất tổ chức như thời Trần có sự thành lập “Giáo hội Trúc Lâm” hình thành trên sự thống nhất 03 hệ phái Phật giáo lớn nhất lúc bấy giờ là Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường; cuộc vận động thống nhất Phật giáo năm 1951, năm 1957- 1958, năm 1964, nhưng các cuộc vận động thống nhất này chưa đủ cơ duyên nên việc thống nhất Phật giáo Việt Nam không trọn vẹn. Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) ra đời, đánh dấu một bước phát triển, mốc son của lịch sử Phật giáo Việt Nam, lần đầu tiên Phật giáo Việt Nam đã được thống nhất tổ chức trên toàn quốc. Năm 2011, tròn 30 năm GHPGVN được thành lập, nhìn lại lịch sử 30 năm này, với phương châm hoạt động Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội, GHPGVN đã tự khẳng định vị thế, sự phát triển của mình trong khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, đóng góp và phát huy không nhỏ vai trò của mình vào những thành tựu chung của đất nước. Điều đó được biểu hiện sinh động qua nhiều hoạt động tích cực, cụ thể, những thành quả đáng ghi nhận trong hoạt động của GHPGVN.
- 1. Đôi nét quá trình hình thành và phát triển GHPGVN.
Năm 1975, đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, nhận thấy đây là thời điểm tốt hội đủ cơ duyên; thể theo ước vọng, ý nguyện của các vị cao Tăng thạc đức đi trước và thể theo nguyện vọng của đại đa số Tăng, Ni, Phật tử trên toàn quốc; với tư tưởng Phật giáo Việt Nam muốn có được sức mạnh thật sự cần phải hòa hợp cùng nhau trong một tổ chức chung để phát huy truyền thống đồng hành cùng dân tộc và góp phần giữ gìn hoà bình, an lạc cho dân tộc, đồng thời rút kinh nghiệm từ các cuộc vận động thống nhất Phật giáo lần trước tuy đã thành lập được các tổ chức Phật giáo nhưng vẫn chỉ mang ý nghĩa thống nhất của một số tổ chức, hệ phái đại diện của một miền hay một vùng. Đầu năm 1980, chư tôn đức giáo phẩm đại diện cho các tổ chức, hệ phái lớn của Phật giáo Việt Nam trong nước lúc đó (Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (Ấn Quang), Ban Liên lạc Phật giáo Yêu nước Tp. Hồ Chí Minh, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước Tây Nam bộ, Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, Giáo hội Thiên Thai giáo Quán tông và Hội Phật học Nam Việt) đã nhóm họp tại thành phố Hồ Chí Minh và đi đến thống nhất thành lập “Ban vận động thống nhất Phật giáo” để vận động thống nhất Phật giáo trong phạm vi cả nước. Ban Vận động ra đời là một thành quả lớn lao của “quá trình liên lạc”, một chặng đường đầy gian nan, thử thách, ban đầu gồm 23 thành viên là những nhà lãnh đạo có tên tuổi trong 09 tổ chức, hệ phái Phật giáo nói trên, có đủ uy tín lãnh đạo và đủ khả năng đi vận động hướng đến tinh thần chung thống nhất Phật giáo.
Kết quả sau gần 02 năm vận động, từ ngày 04 đến 07/11/1981, tại chùa Quán Sứ Hà Nội đã diễn ra Hội nghị Thống nhất Phật giáo Việt Nam với sự tham dự của 165 vị Giáo phẩm, Tăng Ni, Cư sĩ đại diện cho 09 tổ chức, hệ phái nói trên, thành lập một tổ chức chung cho Phật giáo cả nước với tên gọi là GHPGVN, trên nguyên tắc đảm bảo thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, đồng thời vẫn tôn trọng và duy trì các truyền thống hệ phái, cũng như các pháp môn và phương tiện tu hành đúng chính pháp, với phương châm hoạt động “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”.
Kể từ đó, GHPGVN luôn là tổ chức Giáo hội duy nhất đại diện cho Tăng, Ni, Phật tử Việt Nam trong nước và ở nước ngoài đó để thực hiện mọi hoạt động Phật sự theo hướng đi lên của thời đại. Đến nay đã tròn 30 năm, trải qua 06 nhiệm kỳ: Đại hội kỳ II diễn ra trong 2 ngày 28,29/10/1987 với sự tham dự của 200 đại biểu chính thức; Đại hội kỳ III được tổ chức từ ngày 3-4/11/1992 với sự tham dự của 227 đại biểu chính thức; Đại hội kỳ IV diễn ra trong 2 ngày 22,23/11/1997 với sự tham gia của 320 đại biểu chính thức; Đại hội kỳ V diễn ra trong 2 ngày 4,5/12/2002 với sự tham dự của 527 đại biểu chính thức; Đai hội kỳ VI diễn ra từ ngày 13 đến ngày 14/12/2007, với sự tham dự của 735 đại biểu chính thức, năm 2012 GHGPVN sẽ bước sang nhiệm kỳ thứ VII.
2. Những thành tựu đạt được
* Về mặt tổ chức
Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn luôn quan tâm và đặc biệt chú trọng xây dựng, củng cố khối hòa hợp tăng chúng, xây dựng Giáo hội vững mạnh để thực hiện đường hướng đã chọn. Kể từ khi được thành lập, qua mỗi kỳ Đại hội, tổ chức GHPGVN ngày càng được củng cố và mở rộng:
- Về hệ thống tổ chức: Từ hệ thống hai cấp hành chính: Trung ương GHPGVN và Tỉnh, thành hội Phật giáo, đến nay (từ Đại hội kỳ VI năm 2007), GHPGVN có 03 cấp hành chính: Trung ương; tỉnh, thành hội; quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi tắt là cấp huyện). Các Ban, ngành, Viện chuyên môn và Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội, Ban Đại diện Phật giáo cấp huyện ngày càng mở rộng ở khắp cả nước qua các nhiệm kỳ. Bảng số liệu sau đây cho thấy một phần điều đó:
|
Nội dung |
NK I (1981 - 1987) |
NK II (1987 - 1992) |
NK III (1992 - 1997) |
NK IV (1997 -2002) |
NK V (2002 - 2007) |
T10/2011 |
|
Các Ban, ngành, Viện chuyên môn |
06 |
08 |
10 |
10 |
10 |
10 |
|
Ban Trị sự (Ban Đại diện) Phật giáo cấp tỉnh |
28 |
33 |
41 |
45 |
54 |
57 |
Bên cạnh đó, ở nước ngoài, đầu tiên chỉ có Hội Phật tử Việt Nam ở Cộng hoà Pháp thì trong nhiệm kỳ VI (2007 – 2012) GHPGVN đã công nhận thêm 06 Hội Phật tử Việt Nam tại các nước: Nga, Đức, Séc, Hungary, Ba Lan, Ucraina và 01 Ban Đại diện Tăng sinh du học ở Ấn Độ.
- Về nhân sự lãnh đạo ở cấp Trung ương và các cấp Giáo hội luôn được bổ sung, đặc biệt Hội đồng Trị sự (HĐTS) từng bước được trẻ hóa phù hợp với sự phát triển của Giáo hội trong thời kỳ phát triển mới của đất nước và thế giới. Nhiệm kỳ I là thời kỳ xây dựng và củng cố tổ chức với 50 thành viên HĐCM, 50 thành viên HĐTS; Nhiệm kỳ II là giai đoạn phát triển các mặt hoạt động theo chương trình nội dung với 37 thành viên HĐCM, 60 thành viên HĐTS; Nhiệm kỳ III là giai đoạn tiếp tục phát triển một cách toàn diện và hoàn chỉnh các mặt hoạt động với 33 thành viên HĐCM, 70 thành viên HĐTS; Nhiệm kỳ IV, tổng kết những thành quả của Giáo hội trong những năm cuối của thế kỷ 20 và bước sang thế kỷ 21, có 67 thành viên HĐCM, 94 thành viên HĐTS; Nhiệm kỳ V là nhiệm kỳ đầu của thế kỷ 21, với 85 thành viên HĐCM, 95 thành viên HĐTS chính thức và 24 thành viên HĐTS dự khuyết; Nhiệm kỳ VI, kiện toàn cơ chế tổ chức, triển khai nội dung hoạt động theo tinh thần Hiến chương đã tu chỉnh với 97 thành viên HĐCM, 147 thành viên HĐTS chính thức và 48 thành viên dự khuyết.
Trong 30 năm qua, GHPGVN cũng đã tấn phong, truy phong gần 5.000 giáo phẩm, tổ chức hàng trăm giới đàn. Từ lúc chỉ có khoảng trên 15 nghìn Tăng, Ni và 8.463 cơ sở thờ tự (năm 1987) đến nay, GHPGVN có trên 46 nghìn Tăng, Ni; hơn 15 nghìn cơ sở thờ tự, trên 10 triệu tín đồ đã quy y Tam bảo (trong khoảng 70% dân số Việt Nam chịu ảnh hưởng của Phật giáo về lối sống, văn hóa) ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước.
GHPGVN được hình thành dựa trên cơ sở thống nhất của các tổ chức, hệ phái Phật giáo trong cả nước, trên nguyên tắc đảm bảo thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, trong hoạt động Giáo hội luôn duy trì và tôn trọng các truyền thống hệ phái, cũng như các pháp môn và phương tiện tu hành đúng chính pháp như phương pháp tu học của Phật giáo Nam tông Khmer, Phật giáo Khất sĩ,… Đồng thời Hiến chương của Giáo hội cũng luôn được bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình của xã hội, sự phát triển của Giáo hội.
* Về đào tạo tăng tài
Công tác giáo dục, đào tạo tăng tài nhằm tạo ra một đội ngũ Tăng, Ni có kiến thức và đạo hạnh toàn diện để tiếp tục truyền trì mạng mạnh Phật giáo đã được phát huy ngay từ khi thành lập, cũng như suốt 30 năm phát triển của GHPGVN. Đại đa số Tăng, Ni sinh sau khi tốt nghiệp các cấp học Phật học đều tham gia tích cực các hoạt động của Giáo hội, nhiều người được suy cử giữ chức vụ quan trọng trong GHPGVN các cấp. Kể từ lúc ban đầu thành lập mới chỉ có 01 trường Cao cấp Phật học (sau đổi tên thành Học viện Phật giáo Việt Nam), đến nay GHPGVN có một hệ thống cơ sở đào tạo tương đối hoàn thiện theo các cấp học khác nhau, từ Sơ cấp Phật học, đến Trung cấp, Cao đẳng và Học viện Phật giáo. Hiện GHPGVN có 04 Học viện Phật giáo cho cả Phật giáo Bắc tông và Nam tông; 8 lớp Cao đẳng Phật giáo (tháng 8/2009, Trường Trung cấp Phật học thành phố Hải Phòng được nhà nước chấp thuận cho nâng cấp lên thành Trường Trung - Cao đẳng Phật học), 31 trường Trung cấp Phật học và hàng trăm lớp Sơ cấp Phật học, với 3820 Tăng, Ni sinh tốt nghiệp cử nhân Phật học và 1620 Tăng, Ni sinh theo học tại các Học viện Phật giáo; 1.506 Tăng Ni sinh tốt nghiệp và đang đào tạo 690 Tăng Ni sinh Cao đẳng Phật học; 7.315 Tăng Ni sinh tốt nghiệp và đang đào tạo 2.611 Trung cấp Phật học…
Ngoài ra, GHPGVN còn thường xuyên tổ chức các khoá bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho Tăng, Ni, Cư sĩ thuộc thành viên Ban Giáo dục Tăng Ni, Ban Giảng huấn các trường Phật học; liên kết với các trường thế học như Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội tổ chức lớp triết học Phương Đông và Tôn giáo học cho một số Tăng, Ni, hiện có 62 Tăng, Ni theo học, 27 người đã tốt nghiệp cử nhân Triết học và hàng chục Tăng, Ni sinh đang theo học Thạc sĩ Triết học tại Trường; Giới thiệu đi du học 376 Tăng, Ni (những Tăng, Ni này đều thông qua Văn phòng TW GHPGVN, ngoài ra còn có rất nhiều Tăng, Ni đi theo con đường du lịch) chủ yếu ở các nước Ấn độ, Trung Quốc, Đài Bắc, Thái Lan, Tích Lan, Myanmar, Mỹ, Úc…, hiện có gần 100 vị đã tốt nghiệp thạc sĩ, tiến sĩ Phật học và các chuyên ngành khác đã về nước tham gia vào các hoạt động, giảng dạy của GHPGVN (trước năm 1981, Phật giáo Việt Nam chỉ có trên 10 chức sắc, nhà tu hành có trình độ tiến sĩ).
Với công tác giáo dục trong Phật giáo Nam tông Khmer, được sự giúp đỡ của TW GHPGVN và của các cấp chính quyền, đã nhanh chóng, từng bước bổ sung những nội dung phù hợp với việc đào tạo sư sãi của hệ phái, góp phần giáo dục trong đồng bào Khmer trong giai đoạn phát triển mới của đất nước nhưng vẫn giữ được nét truyền thống mang sắc thái riêng của đồng bào dân tộc Khmer và hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer. Đến nay, Phật giáo Nam tông Khmer đã có một hệ thống đào tạo chức sắc tương đối bài bản so với các thời kỳ trước, đã thành lập được các Trường từ Sơ cấp, Trung cấp Phật học chuyên đào tạo các sư Khmer. Khả quan và đáng khích lệ nhất là việc thành lập Học viện PGNT Khmer. Hiện nay Học viện này đã hoàn tất chương trình khóa học đầu tiên và đang đào tạo năm đầu khóa II. Không những thế, nhằm nâng cao trình độ Phật học và thế học, đào tạo nguồn nhân lực kế thừa, hàng năm đã có rất nhiều chư Tăng Khmer du học ở Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ, Campuchia và các Trường Đại học trong nước, như năm 2010 tỉnh Trà Vinh có 59 vị, Vĩnh Long có 14 vị, Sóc Trăng có 05 vị, Kiên Giang có 03 vị…
* Về hoạt động Từ thiện xã hội
Công tác Từ thiện xã hội là những hoạt động đạo đức mang tính tích cực và trong sáng, đượm nét từ bi cứu khổ, tinh thần nhập thế của Phật giáo, là một trong những công tác trọng tâm của GHPGVN. Trước đây do chưa được hướng dẫn theo một tổ chức có hệ thống, có quy củ nề nếp, nên hoạt động từ thiện ban đầu chỉ mang tính bộc phát, rời rạc ở một vài địa phương và do một số Tăng, Ni, Phật tử thực hiện. Nay được sự điều hành có tôn chỉ và mục đích của GHPGVN, hoạt động từ thiện trong Phật giáo đã được rộng khắp, được đánh giá tốt và ngày càng phát triển. Đặc biệt, trong thời gian hơn 10 năm trở lại đây, hoạt động này đã được các cấp GHPGVN thực hiện dưới nhiều hình thức hết sức đa dạng như mở các Tuệ tĩnh đường phục vụ người nghèo, mở các lớp tình thương, nuôi dạy trẻ em cơ nhỡ bị bỏ rơi, người già neo đơn, thành lập câu lạc bộ những bệnh nhân HIV/AIDS,… ở trong các chùa, hỗ trợ xây dựng các trường Tiểu học, Mẫu giáo ở các địa phương, kịp thời quyên góp và cứu trợ đến đồng bào bị lũ lụt, thiên tai. Hiện GHPGVN có 126 Tuệ Tĩnh Đường, 655 Phòng thuốc chẩn trị y học, 2000 lớp học tình thương, 36 cơ sở nuôi dạy trẻ bán trú, trẻ em mồ côi, khuyết tật, người già không nơi nương tựa…. Số lượng tiền, hiện vật quyên góp và thực hiện hoạt động Từ thiện xã hội của Giáo hội ngày càng tăng qua các nhiệm kỳ: Thời gian đầu thành lập của GHPGVN, do điều kiện đất nước còn khó khăn, hưởng ứng lời kêu gọi của nhà nước, nhiều chùa đã tiết kiệm trích tiền mua công trái, trái phiếu Chính phủ, qua đó, góp phần xây dựng đất nước như Thành hội Phật giáo Hồ Chí Minh trong nhiệm kỳ II đã mua công trái với số tiền trên 4,6 triệu đồng và 02 lượng vàng; nhiệm kỳ III quyên góp được 02 tỷ đồng; nhiệm kỳ IV quyên góp được gần 112 tỷ đồng, nhiệm kỳ V quyên góp được gần 300 tỷ đồng; chỉ tính riêng từ năm 2007 – T6/2011, GHPGVN đã huy động được gần 2.000 tỷ đồng và nhiều tấn gạo, quần áo, thuốc men, hàng ngàn chiếc xuồng, ghe…
* Về hoạt động Quốc tế:
Ngay từ buổi ban đầu khi thành lập, GHPGVN đã triển khai các hoạt động quốc tế trong mối quan hệ với Phật giáo các nước trên thế giới. Ban đầu, những hoạt động quốc tế của GHPGVN được tập trung vào hoạt động của Tổ chức Phật giáo Châu Á vì hòa bình (ABCP). Sau khi đất nước bước vào thời kỳ mới, thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với chính sách đối ngoại hội nhập và rộng mở, hoạt động và mối quan hệ quốc tế của GHPGVN ngày càng được mở rộng và tăng cường, với nhiều nội dung và hình thức phong phú, không chỉ bó gọn trong Phật giáo mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, không chỉ trong khu vực mà còn rộng rãi trên toàn thế giới. Trong 30 năm qua, GHPGVN tham gia có đến hàng trăm hoạt động quốc tế như: Tham gia Hội nghị Châu Á vì hòa bình – ABCP tại Mông Cổ, Hội nghị những nhà lãnh đạo tôn giáo chống chiến tranh hoạt nhân ở Liên Xô (1982), Hội nghị về đói nghèo, chạy đua vũ trang, trật tự đạo đức mới tại Liên Xô (1986), Hội nghị Phật giáo và Hòa bình tại Hàn Quốc (1991), Hội nghị giải trừ quân bị lần thứ V tại Việt Nam (1993), Hội nghị truyền bá Phật giáo lần thứ nhất tại Nhật Bản (1998), tham dự Hội nghị các nhà lãnh đạo tôn giáo thế giới tại Mỹ do Liên Hợp quốc tổ chức (2000), Hội nghị tôn giáo Châu Á tại Indonesia (2002), tham dự Hội nghị thượng đỉnh Phật giáo thế giới lần thứ IV tại Thái Lan (2006), Đại lễ Phật đản Liên Hợp quốc tại Thái Lan (2006, 2007, 2009, 2010), Hội nghị đối thoại tín ngưỡng Á Châu lần III tại Trung Quốc (2007), đối thoại Liên tôn giáo Châu Á-Thái Bình Dương tại New Zealand (2007), Đối thoại nhân quyền Việt Nam tại Mỹ (2007)….; tổ chức thành công nhiều sự kiện Phật giáo thế giới tại Việt Nam như: Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc Vesak 2008 tại Việt Nam, từ ngày 14 – 16/5/2008, có trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ tham dự; Hội nghị nữ giới Phật giáo Thế giới lần thứ XI tại Tp. Hồ Chí Minh, từ ngày 28/12/2009 đến ngày 03/01/2010…; tiếp đón hàng trăm phái đoàn Phật giáo Quốc tế, các tổ chức Phật giáo Quốc tế, phái đoàn Đại Sứ Quán các nước.
Các hoạt động quốc tế của GHPGVN nói trên không chỉ tạo điều kiện cho Phật giáo Việt Nam hội nhập quốc tế mà qua đó hình ảnh, uy tín của Phật giáo Việt Nam nói chung, GHPGVN nói riêng ngày càng được biết đến và nâng cao trong khu vực, trên trường quốc tế.
* Hoạt động nghiên cứu Phật học, học thuật Phật giáo và các hoạt động khác
Hoạt động nghiên cứu Phật học, học thuật Phật giáo đã được GHPGVN luôn chú trọng trong suốt 30 năm qua và ngày càng được củng cố, phát triển. Ngay từ đầu, về mặt tổ chức, GHPGVN đã thành lập Viện Nghiên cứu Phật học và các Phân viện Phật học Việt Nam tại Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh nhằm giúp Giáo hội trong vấn đề nghiên cứu; công tác in ấn kinh sách để phổ truyền Phật pháp, hướng dẫn Tăng, Ni, Phật tử tu học luôn được đầu tư chú trọng. Nhiều đầu sách có giá trị đã được dịch, biên soạn lại và cho xuất bản đưa đến các chùa trong cả nước như đã xuất bản Đại Tạng Kinh Việt Nam, với 5 Bộ Nikaya, 4 Bộ A Hàm, một số Kinh thuộc Tiểu Bộ, tổng cộng 33 tập, trên dưới khoảng 200 ngàn trang và đang hiệu đính các Bộ Đại Thừa thuộc Hán Tạng; In và phát hành hàng trăm đầu sách thuộc các thể loại như Kinh, Luật, Luận, Sử Phật giáo Việt Nam và Sử Phật giáo thế giới; các tác phẩm dịch thuật, biên soạn của chư Tôn đức, các nhà nghiên cứu, học giả... Chỉ tính từ khi Nhà xuất bản Tôn giáo được thành lập (1999) đến nay, GHPGVN đã in gần 1000 đầu sách với khoảng 06 triệu bản in. Riêng Phật giáo Nam tông Khmer từ năm 2005 đến 2009 đã có gần 30 đầu sách được xuất bản và hiện đang tiếp tục xuất bản hàng chục đầu sách khác với hàng trăm ngàn bản in, qua đó góp phần vào công tác nghiên cứu, học tập phù hợp tính biệt truyền của hệ phái Nam tông Khmer.
Cùng với việc in kinh sách Phật giáo, công tác nghiên cứu Phật học, học thuật Phật giáo, công tác hoằng pháp Phật giáo còn được thể hiện qua các tờ báo, tạp chí của GHPGVN. Từ lúc chỉ có 01 tờ báo (Tuần báo Giác Ngộ) và 01 quyển tập văn Phật giáo, đến nay GHPGVN có 04 Tạp chí Phật học (Nghiên cứu Phật học, Văn hóa Phật giáo, Khuông Việt và Tạp chí Phật giáo Nguyên Thủy), 01 tuần báo và rất nhiều trang tin điện tử; tổ chức nhiều cuộc Hội thảo khoa học như: hội thảo Thiền uyển Tập Anh, Bồ tát Quảng Đức, Sư Thiện Chiếu, Phật giáo thời đại mới cơ hội và thách thức, Thiền sư Trần Thái Tôn, Phật hoàng Trần Nhân Tông – Phật giáo đời Trần, Quốc sư Khuông Việt, Hòa thượng Trí Hải, HT. Kim Cương Tử, Cư sĩ Thiều Chửu và những phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, về Đạo đức Phật giáo, Giáo dục Phật giáo trong thời đại mới, Phật giáo hội nhập và văn hóa dân tộc, Thiền Phật giáo đời Trần, về Tôn giáo tính, Chúa – Bồ tát Nguyễn Phúc Chu với sự nghiệp mở mang bờ cõi… Các hội thảo thu hút được sự tham gia của chư Tôn đức Tăng Ni, nhiều nhà học giả, nghiên cứu trong và ngoài nước tham dự, góp phần hiểu rõ hơn Phật giáo Việt Nam và những đóng góp của các cá nhân, tổ chức Phật giáo trong lịch sử, qua đó có cái nhìn định hướng phát triển Phật giáo Việt Nam trong tương lai.
Bên cạnh đó, công tác hướng dẫn Phật tử cũng luôn được đề cao, thích ứng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của GHPGVN, hướng dẫn Phật tử tu tập theo chính pháp thông qua nhiều hình thức như qua các Hội thi giáo lý, các đạo Tràng, sinh hoạt thanh thiếu niên Gia đình Phật tử… Hiện nay, GHPGVN có trên 10 triệu tín đồ đã quy y Tam bảo (chưa tính số người có tín ngưỡng Phật giáo), trở thành tôn giáo có tín đồ lớn nhất trong cả nước.
Thay cho lời kết:
Có thể nói, bên cạnh những thành tựu đã đạt được của GHPGVN, do nhiều lý do khách quan và chủ quan trong sinh hoạt, hoạt động của GHPGVN vẫn còn hạn chế ở một số lĩnh vực như: Giáo hội chưa thống kê, quản lý được số Tăng, Ni đi du học ở nước ngoài theo con đường du lịch; một số trường Trung cấp Phật học được thành lập nhưng đi vào hoạt động còn cầm chừng; chưa thống nhất được chương trình đào tạo Phật học cho người tu học thuộc hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer; việc xây dựng mới, sửa chữa chùa không xin phép, mâu thuẫn nội bộ vẫn còn diễn ra ở một số địa phương; một bộ phận Tăng, Ni đạo hạnh chưa tốt, trình độ Phật học, thế học chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển mới của GHPGVN… Tuy nhiên, nhìn lại chặng đường 30 năm, thời gian chưa nhiều so với lịch sử của Phật giáo Việt Nam, nhưng GHPGVN đã tạo nên những thành tựu rất to lớn, không chỉ cho Phật pháp mà cho cả dân tộc, có cả chiều rộng lẫn chiều sâu, ngày càng khẳng định vai trò và uy tín của mình trong lòng dân tộc, trong khu vực và thế giới. Những thành tựu của GHPGVN có được chính là nhờ vào trí tuệ tập thể, sự đoàn kết thống nhất của các tổ chức, hệ phái Phật giáo, của mọi người con Phật Việt Nam trong ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Ghi nhận những đóng góp của GHPGVN cho Đạo pháp và Dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, Nhà nước ta đã trao tặng tập thể GHGPVN Huân chương Hồ Chí Minh và Huân chương độc lập, huân chương Đại đoàn kết và nhiều phần thưởng cao quý khác cho hàng chục cá nhân, chức sắc, giáo phẩm, Tăng, Ni, Phật tử. GHPGVN đang viết tiếp trang sử vẻ vang của Phật giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc, hộ quốc an dân./.
Tài liệu tham khảo:
- GHPGVN, Kỷ yếu Hôi nghị Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam, năm 1981
- Các Kỷ yếu Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ II, III, IV, V, VI của GHPGVN.
- Kỷ yếu Hội thảo 25 năm (1981 – 2006) thành lập GHPGVN
- Báo cáo Tổng kết công tác Phật sự từ 1981 đến 2010 của GHPGVN.
- Tư liệu Phật giáo lưu trữ tại Vụ Phật giáo, Phòng Lưu trữ, Ban Tôn giáo Chính phủ.
......



























