GHPGVN 30 năm thành lập
GHPGVN 30 năm thành lập
NHÂN DỊP KỶ NIỆM 30 NĂM THÀNH LẬP GHPGVN
CỦA BAN TRỊ SỰ PHẬT GIÁO TỈNH NGHỆ AN
Thượng tọa Thích Thọ Lạc
Ủy viên DK HĐTS GHPGVN
Phó Trưởng Ban Thường trực THPG Nghệ An
1. DẪN ĐỀ
Trong suốt chiều dài lịch sử hơn hai nghìn năm, sự ra đời của một tổ chức duy nhất đại diện cho Phật giáo Việt Nam trong nước vào ngày 07 tháng 11 năm 1981 là một bước chuyển mình có tính chất đột phá của Phật giáo nước nhà.
Sau 30 năm từng bước phát triển và kiện toàn hệ thống tổ chức qua các nhiệm kỳ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có nhiều thành tựu rực rỡ, được thể hiện qua nhiều lĩnh vực khác nhau. Đặc biệt phải kể đến số lượng hàng ngàn Tăng Ni được truyền trao giới pháp, kế thừa mạng mạch Như Lai. Cùng với đó là sự hình thành và phát triển của 4 trường Đại học, 8 lớp Cao đẳng và hơn 30 trường Trung cấp Phật học trên cả nước…
Những con số thống kê tiêu biểu ở trên trong lãnh vực Tăng sự và Giáo dục cho thấy qua các giai đoạn thăng trầm đó một cách sinh động và linh hoạt trong thời đại mới.
Tuy vậy, trước sự chuyển biến ngày càng nhanh của thế giới và đất nước, trước sự giao thoa đa dạng của các làn sóng văn hóa khác nhau, đứng lại tức là lạc hậu. Nhìn lại chặng đường 30 năm phát triển của Giáo hội Phật giáo nước nhà, đặc biệt trong lĩnh vực Tăng sự và Giáo dục, chúng ta chỉ nhìn thấy ở đó là sự phát triển tăng tốc về số lượng, trong khi chất lượng dường như chưa có sự chuyển biến tích cực.
Vẫn còn đó sự xuống cấp đáng báo động về đạo đức của một bộ phận Tăng Ni trẻ, vẫn còn đó sự lạc hậu trong đường hướng giáo dục như chương trình và phương thức giáo dục trước tình hình mới. Không ít Tăng Ni sau khi tốt nghiệp tại các trường Phật học không có khả năng vận dụng kiến thức đã học vào việc hành trì tu tập, hoằng pháp hoặc chí ít là quản lý hành chính hay tự viện…
Vẫn còn đó nhiều cơ sở tự viện chưa có người hướng dẫn và quản lý trong khi vẫn còn đó rất nhiều Tăng Ni phải thuê trọ nhà cư sỹ Phật tử hoặc ở am, ở thất… Là một tôn giáo gắn bó mật thiết và đồng hành cùng dân tộc, trở thành nền tảng và văn hóa sống của đại bộ phận dân cư vậy mà vẫn nhiều nơi, nhiều tỉnh thành, đặc biệt tại các vùng sâu vùng xa hay địa bàn dân tộc thiểu số, hình ảnh Tăng Ni vẫn chưa xuất hiện, ánh sáng Phật pháp vẫn chưa chiếu soi…
Thuận theo quy luật vô thường, nhiều bậc Tôn túc trưởng lão là long tượng của Phật giáo đã ra đi nhưng khoảng trống mà các Ngài để lại vẫn chưa ai có thế thay thế… Phải chăng, ở đó vẫn chưa có đủ sự tin cậy của các vị Tôn Túc đối với thế hệ hậu học hay phải chăng thế hệ trẻ chưa xứng đáng đón nhận niềm tin từ các vị trưởng lão?
Nhìn lại chặng đường 30 năm phát triển đã qua của Giáo hội Phật giáo như là nhìn vào tấm gương, không phải là để ngắm mình và hài lòng với những thành quả đã đạt được, mà trên cơ sở đó thấy được những ưu khuyết đang hiện hữu, từ đó cùng nhau ngồi lại, điều chỉnh thích hợp cho sự phát triển, không chỉ phát triển một cách nhanh chóng mà còn phát triển một cách vững chắc cho hiện tại cũng như tương lai…
2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Những vấn đề trên chỉ là một trong nhiều những vấn đề mà Giáo hội đang phải đối mặt. Trước lịch sử hàng nghìn năm của Phật giáo nước nhà, trước trọng trách và sứ mệnh của một đệ tử Như Lai, trước sự tồn vong của Phật pháp khiến chúng ta không khỏi không thao thức đắn đo.
Nhân buổi hội thảo chào mừng 30 năm thành lập Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, con xin được nêu một vài ý kiến nhỏ ở một vài lĩnh vực như sau:
a. Về việc quản lý Tăng Ni:
Có một thực tế đáng buồn là hiện nay mặc dù mỗi Đàn giới được tổ chức uy nghiêm và chặt chẽ với số lượng Tăng Ni mỗi năm lên con số hàng nghìn, nhưng sau khi Giới đàn đã viên mãn, dường như Giáo hội vẫn chưa thực sự quan tâm, sắp xếp và quản lý những con số như vậy.
Một người mới xuất gia tu học thì cần nương tựa vào một vị Bổn sư hay Y chỉ sư. Khi còn ở chung trong một tự viện nhất định nào đó thì còn có sự quản lý chặt chẽ, nhưng nếu cho đi học ở các tỉnh thành phố lớn, sự quản lý của các vị Bổn sư hay Y chỉ sư lỏng lẻo dần. Tại các trường Phật học lớn, các trường dường như vẫn là thả lỏng để mỗi người tự giác.
Chính sự quản lý thiếu chặt chẽ như vậy, trước sự đưa đẩy của hoàn cảnh bên ngoài khiến không ít những mầm non tương lai của Phật giáo bị thui chột. Cổ nhân từng dạy: “Tăng ly chúng Tăng tàn, hổ ly sơn hổ bại”, vì vậy để đảm bảo có thể nuôi dưỡng hạt giống Bồ đề cho tươi tốt rất cần đến sự bảo bọc của Tăng đoàn.
Giáo hội được thành lập không phải chỉ đơn giản là kiện toàn tổ chức về mặt hình thức mà trên tất cả, đó là một môi trường Tăng thân để nuôi dưỡng và ấp ủ những hạt giống Bồ đề trong tâm thức mỗi người dược bén rễ.
Muốn làm được điều đó, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa Ban đại diện Phật giáo tại địa phương với cá nhân từng vị trụ trì. Mỗi một Tăng Ni là một đóa hoa của Giáo hội, muốn đóa hoa đó được nở rộ thì cần phải được nuôi dưỡng dài lâu. Giáo hội chúng ta dường như vẫn chưa quan tâm trực tiếp đến từng con người, từng cá nhân như vậy.
Khi thiếu sự quan tâm, giúp đỡ và chia sẻ những lúc cần thiết thì việc điều động, sắp xếp nhân sự của Giáo hội trở nên bị động. Có nơi thừa, có nơi thiếu, có nơi dường như hoàn toàn không được quan tâm đến. Một Giáo hội mà giáo quyền chỉ nhắm vào việc quản lý hành chính tự viện nhưng không có khả năng tác động đến từng con người tham gia trong Giáo hội thì đó là một khiếm khuyết lớn. Nếu sự kết hợp giữa Giáo hội với vị Bổn sư, Y chỉ sư hay Trụ trì các tự viện càng thêm bền thêm chặt thì sự điều phối Tăng Ni trong các kế hoạch ngắn hạn hay dài hạn của Giáo hội mới có tính khả thi, ngược lại thì chúng ta vẫn phải trông chờ vào sự phát tâm của từng người tu học.
b. Về tổ chức nhân sự hành chính
Đối với việc tổ chức nhân sự hành chính, đã từ lâu, những Tôn túc vẫn thường kêu gọi trẻ hóa đội ngũ quản lý. Chỉ có thông qua việc trẻ hóa nhân sự thì Giáo hội mới có thể nhanh chóng chuyển mình theo sự thay đổi của thời cuộc.
Tuy vậy, vì đây là một tổ chức tôn giáo chứ không phải là một tổ chức chính trị hay khoa học nên tài năng không phải là yếu tố quyết định cho việc sắp xếp vị trí. Chính đạo lực, đạo hạnh và tầm ảnh hưởng mới là yếu tố quyết định.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam chỉ là một thành tố trong rất nhiều tổ chức khác nhau của xã hội. Dù muốn dù không thì sự thay đổi của xã hội cũng dẫn đến sự thay đổi của một tổ chức, dù đó là tổ chức tôn giáo. Vì thế, trước sự năng động của xã hội, đòi hỏi những người lãnh đạo Giáo hội không chỉ là người có đạo lực, đạo hạnh mà cần có tầm nhìn, tài năng, tâm huyết như uyển chuyển một cách hài hòa.
Trẻ hóa nhân sự lãnh đạo, không chỉ là trẻ hóa những vị quản lý tự viện cấp cơ sở mà còn là trẻ hóa lãnh đạo Giáo hội các cấp. Ngay từ khi thành lập, đã có một sự phân định ngầm rằng Hội đồng Chứng minh là hội đồng trưởng lão của các vị tôn túc, là long tượng, là mạch ngầm, là chỗ dựa cho Tăng Ni tu học; còn Hội đồng Trị sự là cơ quan dành cho những người đủ sức khỏe, đủ tài năng thực hiện các việc Phật sự chung của Giáo hội.
Để đảm bảo hai yếu tố tài và đức, trí thức và đạo lực đối với nhân sự lãnh đạo các cấp Giáo hội, thiết nghĩ nên xây dựng một bảng mẫu, trong đó đề ra tiêu chuẩn chung như tuổi tác, bằng cấp… để Ban Trị sự các tỉnh thành tùy theo hoàn cảnh từng địa phương, dựa vào đó thuận lợi cho việc bố trí và sắp xếp nhân sự.
c. Về đổi mới chương trình giáo dục:
Giáo dục đối với quốc gia là quốc sách hàng đầu thì đối với Giáo hội chính là đầu tàu thúc đẩy tất cả các Ban ngành khác hoạt động một cách hiệu quả. Chỉ thông qua các giáo dục thì người tu học mới có điều kiện và cơ sở cho việc khai mở trí tuệ và hoằng pháp độ sinh…
Sau 30 năm, một khoảng thời gian chưa phải là dài so với lịch sử của Phật giáo nước nhà, nhưng cũng không phải là ngắn đối với một thế hệ đã có những bước phát triển vượt bậc và rõ nét trong lĩnh vực giáo dục của Giáo hội.
Hệ thống các cấp học ngày càng hoàn thiện, giáo trình mỗi ngày một chặt chẽ. Nhiều bậc học, nhiều chuyên ngành được mở ra đáp ứng kịp thời với sự tiến bộ của xã hội.
Tuy nhiên, sau 30 năm, thành quả đạt được đã có, nhưng nếu sau 30 năm nữa mà chúng ta tiếp tục đi theo hướng này thì đó có thể là một bước lùi nhất định nào đó. Một người xuất gia đích thực không lấy bằng cấp tri thức làm thước đo mà chính là hương vị giải thoát tỏa ra từ công phu tu hành và nội tâm sâu thẩm. Nếu Giáo hội trong tương lai vẫn đặt nặng vào việc phát triển trí năng và hình thức thì dần dần người tu có thể bị rơi vào chướng ngại của “thế trí biện thông”. Thay vì phát triển theo hướng như vậy, thời gian tới Ban Giáo dục Tăng Ni nên quan tâm hơn nữa vào chiều sâu trong tri thức lẫn chiều sâu trong đạo đức. Các chuyên ngành nên có nội dung cụ thể thích hợp cho từng lãnh vực nhất định.
Bên cạnh việc đạo tạo chuyên sâu nội điển, Giáo hội cũng nên mở thêm các chuyên ngành mới đáp ứng hơn nữa với nhu cầu của thời đại, chẳng hạn Chuyên ngành Truyền thông, thông qua báo chí, website, truyền hình… để có thể đưa Phật pháp đến từng ngõ ngách của đời sống. Các chuyên ngành ngoại ngữ, ngoài chức năng là công cụ nghiên cứu, cũng cần phổ cập đại trà để Tăng Ni có thể cập nhật và truyền tải thông tin nhanh chóng giữa trong nước với quốc tế.
b. Về phổ cập Văn hóa Phật giáo:
Không phủ nhận nét tinh túy của Đạo Phật chính là những tư tưởng triết lý vừa thâm trầm vừa sâu sắc mà khó có học thuyết triết học nào có thể so sánh được. Tuy vậy, việc phổ cập hóa những tư tưởng đó đến với đời sống bình dân thường gặp nhiều khó khăn do những bất cập về nền tảng kiến thức.
Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác hoằng pháp, từ thiện… sao cho mỗi người dân nhìn thấy những đóng góp thiết thực của Phật giáo cho xã hội, việc truyền bá lối sống và những hình thức sinh hoạt văn hóa mang tính Phật giáo thông qua cách đi, đứng, nằm, ngồi; thông qua cách uống trà, cách giao tiếp… cũng là một kênh quan trọng việc hoằng pháp mà bấy lâu nay dường như chúng ta đã lơ đãng.
Thiết nghĩ việc tổ chức một vài buổi trà đạo, triển lãm tranh ảnh, tổ chức hội chợ, giao lưu văn hóa nghệ thuật… luân phiên theo từng quận, huyện hoặc nếu có thể ở một vài cơ sở tự viện điển hình trong quận cũng là một cách đưa Phật giáo đến gần hơn với sinh hoạt thường nhật của người dân, đồng thời cũng là cách đưa mọi người đến gần hơn với Phật giáo thông qua cách sống và cách sinh hoạt từ bi thánh thiện thường nhật.
3. KẾT LUẬN
Là đơn vị Giáo hội cấp tỉnh thứ 58 trong cả nước, được sự cho phép của Giáo hội và cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Nghệ An mới được thành lập vào ngày 23/9/ 2011. Một Ban Trị sự còn non trẻ, cả về kinh nghiệm lẫn tuổi tác, vẫn còn đó rất nhiều những dự định vẫn đang ở thời tương lai.
Với một tổ chức thành lập trễ nhất so với các tỉnh thành phố khác, đối với một mảnh đất giàu truyền thống lịch sử và là nơi in dấu chân hóa độ của nhiều thế hệ Cao tăng Việt Nam như Nghệ An là một thiệt thòi lớn. Bên cạnh những thiệt thiệt thòi đó thì đây cũng chính là cơ hội để Phật giáo Nghệ An có thể học hỏi kinh nghiệm đi trước ở các tỉnh thành khác với mong ước “đi tắt đón đầu”.
Những kiến nghị nhỏ bé của con trước Hội thảo không chỉ là những dự định mà Phật giáo Nghệ An mong muốn xây dựng, đó còn là tâm nguyện thiết tha của hàng hậu học chúng con trước tiền đồ Phật giáo. Xã hội càng lúc càng phát triển như vũ bão, chúng vừa là cơ hội cho Phật giáo cất cánh bay cao, vừa là thử thách để Phật giáo vẫn là một tôn giáo lấy yêu thương và hiểu biết làm sự nghiệp duy nhất mà bao đời nay các bậc thạc đức Cao tăng đã dày công tạo dựng.



























