Một số đóng góp của Phật giáo cho xã hội nông thôn Việt Nam hiện nay
Một số đóng góp của Phật giáo cho xã hội nông thôn Việt Nam hiện nay
MỘT SỐ ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO
CHO XÃ HỘI NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
Ths. Dương Hoàng Lộc
Trường Đại học KHXH&NV-ĐHQG.TPHCM
Ngày nay, Việt Nam đang nỗ lực phát triển đất nước theo hướng bền vững, tức đảm bảo sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, duy trì bản sắc văn hóa. Là một quốc gia nông nghiệp, hiện có khoảng 70% dân số sinh sống ở nông thôn, cho nên vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn mang ý nghĩa quan trọng và chiến lược trong việc xây dựng Việt Nam ngày càng văn minh, giàu mạnh. Trong những năm qua, theo đà phát triển chung của đất nước, bộ mặt nông thôn nước ta có nhiều tiến bộ, đời sống của người nông dân không ngừng được cải thiện. Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại khá nhiều thách thức tác động đến nông thôn Việt Nam, nhưng nổi cộm nhất có nhiều vấn đề xã hội tồn tại như Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của Ban Chấp hành TW khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã chỉ rõ: “Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu qui hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội còn thiếu qui hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm, năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc”[1]. Vì vậy, để công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, cũng như đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, việc giải quyết các vấn đề xã hội nông thôn nước ta là một ưu tiên lớn trong chính sách của nhà nước Việt Nam. Hơn lúc nào hết, Phật giáo, vốn có lịch sử gắn liền với người nông dân Việt Nam, lại là một nguồn lực xã hội quan trọng, sẽ góp phần vào sự phát triển xã hội ở nông thôn nước ta.
- 1. Những vấn đề xã hội nông thôn Việt Nam hiện nay
Vai trò của nông nghiệp, nông dân và nông thôn được Đảng và nhà nước xác định: “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước”[2]. Tuy nhiên, trong những năm qua, nông thôn nước ta đã có nhiều vấn đề xã hội phát sinh như nông dân bị mất đất nông nghiệp, nhiều bệnh lạ, bệnh dịch xuất hiện do ô nhiễm môi trường, di dân ồ ạt đến các đô thị lớn, nghèo đói và phân tầng xã hội ngày một tăng, thiếu việc làm... Hiện tại, có thể đề cập đến một số vấn đề xã hội đang nổi cộm ở nông thôn nước ta là:
- Thứ nhất, an ninh đất đai ở nông thôn là vấn đề thời sự. Đất đai luôn gắn liền với cuộc sống và vận mệnh của người nông dân, cũng như là việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Tuy nhiên, trong thời gian qua, các tỉnh và thành phố đã phát triển nhanh các khu chế xuất, khu công nghiệp, đô thị mới và sân golf đã triệt thoái đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa, đe dọa đến an ninh lương thực và ảnh hưởng đến đời sống của người nông dân. Tác động xã hội của vấn đề này một bộ phận người nông dân mất ruộng, chỉ có ít tiền được đền bù và rơi vào tình trạng khó khăn trong chuyển đổi việc làm. Nó còn gây nên tình trạng tranh chấp, khiếu kiện của nông dân với chính quyền địa phương trong việc thu hồi đất, bồi thường và giải tỏa ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội[3]. Ngoài ra, mất an ninh đất đai ở nông thôn còn tác động đến giảm công ăn việc làm của nông dân, sức khỏe người dân do ô nhiễm môi trường, thúc đẩy việc di dân đến các đô thị lớn, giảm thiểu cơ hội tiếp cận giáo dục và y tế, gia tăng nghèo đói, bất bình đẳng và phân tầng xã hội ở nông thôn…
- Thứ hai, môi trường tự nhiên ở nông thôn bị ô nhiễm nặng do chất thải từ các nhà máy ở các khu công nghiệp, khu chế xuất. Vì vậy, người dân ở một số địa phương đã mắc phải nhiều căn bệnh nan y, nhiều nhất là ung thư. Theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2006, một số địa phương có số người mắc và chết do bệnh ung thư cao, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Hai xã Thạch Sơn và Yên Tập thuộc tỉnh Phú Thọ xuất hiện ung thư gan, phổi và đại tràng từ năm 1991 đến nay. Trong vòng 10 năm nay, ở thôn Lương Đình (xã Bắc Sơn) xảy ra hiện tượng ung thư vú trên phụ nữ, còn ở thôn Thống Nhất, xã Đông Lộ xuất hiện ung thư gan, phổi và dạ dày, vòm họng. Xóm An Tập thuộc thôn An Bắc, xã Nghĩa Kỳ có nhiều người dân bị mắc ung thư gan và hàng chục người đã chết. Nguyên nhân chính là do việc ô nhiễm môi trường sống từ các nhà máy, sử dụng nhiều thuốc trừ sâu, nguồn nước bị nhiễm độc nặng[4]. Biến đổi khí hậu là một thách thức lớn đối với sự phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta trong tương lai. Nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long-vựa lúa của cả nước. Các cơn bão gần đây đổ bộ vào nước ta, đặc biệt ở miền Trung, ngày càng dữ dội và tàn phá nặng nề. Sau bão là lũ quét, cuốn trôi nhà cửa, tài sản, ruộng vườn, vật nuôi.... Ở đó, người dân phải đối mặt với cảnh màn trời chiếu đất, đói kém, tang tóc, bệnh dịch hoành hành… mà phải mất nhiều thời gian mới ổn định được.
- Thứ ba, di dân từ nông thôn ra các thành phố lớn ngày một tăng. Hậu quả xã hội của nó là thiếu lao động sản xuất nông nghiệp, một số làng chỉ còn lại phụ nữ và trẻ em, người già. Người nông dân rời bỏ làng quê đến các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để tìm kiếm việc làm, làm gia tăng thêm tầng lớp nghèo khổ ở đô thị. Họ sinh sống trong một điều kiện khó khăn, vất vả, thường xuyên đối mặt với nhiều nguy cơ tổn thương xảy ra. Một khảo sát của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn năm 2006 ở tám xã thuộc Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long cho thấy hầu hết các vùng nông thôn không còn lao động dưới 40 tuổi. Ở tỉnh Thái Bình, khoảng 45% lao động chuyển khỏi nông nghiệp, 20 vạn người làm ăn xa[5].
- Thứ tư, vấn đề đói nghèo ở nông thôn nước ta vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng, chất lượng cuộc sống thấp, sự chênh lệch mức sống giữa đô thị và nông thôn ngày một cao. Mô hình tăng trưởng những năm qua đảm bảo tăng trưởng cao nhưng thiếu bền vững, chất lượng tăng trưởng thấp và chưa gắn chặt với giảm nghèo, tuy mọi người đều hưởng lợi từ kết quả tăng trưởng, nhưng người giàu và khu vực thành thị được hưởng lợi nhiều hơn, còn hậu quả xã hội thì khu vực nông thôn và người nghèo lại gánh chịu nhiều hơn. Công nghiệp hóa, đô thị hóa tập trung dẫn đến tăng trưởng nóng và hậu quả xã hội là phân hóa giàu nghèo có xu hướng gia tăng, vấn đề nghèo tương đối ngày càng nghiêm trọng… Trong đó, khu vực nông thôn, nhất là nông thôn vùng khó khăn, vùng dân tộc, miền núi phát triển chậm chạp và do đó là nơi tập trung phần lớn người nghèo của cả nước, càng về sau công cuộc xóa đói giảm nghèo ở đây lại càng khó khăn. Tỷ lệ hộ nghèo đã thoát nghèo nhưng nằm sát chuẩn nghèo rất lớn (70-80%), tỷ lệ tái nghèo còn cao khoảng 7-10%, hộ nghèo chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn (90%). Vùng miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số hiện có 62 huyện tỷ lệ hộ nghèo trên 50%. Phân hóa giàu nghèo có xu hướng tăng, chênh lệch về thu nhập của nhóm 20% dân số giàu nhất (nhóm 5) so với nhóm 20% dân số nghèo nhất (nhóm 1) lên tới 8,4 lần, chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị vẫn trên 2,5 lần[6].
Vì vậy, một trong những vấn đề trọng tâm của công cuộc phát triển nông thôn hiện nay chính là: “Tiếp tục triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn nông thôn, nhất là xóa đói, giảm nghèo ở các huyện, xã có tỉ lệ hộ nghèo trên 50%. Khắc phục nhanh những vấn đề bức xúc ở nông thôn, trước hết là những vấn đề tồn tại liên quan tới vấn đề thu hồi đất”[7]. Cụ thể, nếu không giải quyết căn cơ những vấn đề trên, nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người nông dân, làm biến dạng bộ mặt nông thôn, xói mòn truyền thống văn hóa dân tộc và khó thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội nhằm bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước. Cho nên, việc xây dựng xã hội nông thôn với mục tiêu ổn định, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng mới, nâng cao đời sống nông dân là một yêu cầu bức thiết. Trong sự nghiệp ấy, các tổ chức xã hội có vai trò quan trọng, đóng góp không nhỏ vào mục tiêu ấy.
- 2. Một số đóng góp của Phật giáo cho xã hội nông thôn Việt Nam
Lịch sử đã cho thấy Phật giáo, ngay từ buổi đầu du nhập, đã có mối quan hệ chặt chẽ, sâu sắc với nông thôn Việt Nam. Ở làng xã, ngôi chùa không chỉ đáp ứng nhu cầu tinh thần, là một biểu tượng văn hóa, mà còn là nơi gắn kết và chia sẻ với đời sống lam lũ, nhọc nhằn của người nông dân. Thông qua hai hình thức phổ biến chữa bệnh cứu người và dạy chữ, chùa là một chỗ dựa vững chắc cho họ, đặc biệt mỗi khi có chiến tranh và thiên tai tàn phá. Đó là vai trò của chùa Việt trong đời sống cộng đồng làng xã[8]. Điều này thể hiện rõ chức năng xã hội của Phật giáo, góp phần hình thành nên tinh thần hộ quốc an dân và đồng hành cùng dân tộc qua nhiều thăng trầm lịch sử, biểu hiện cụ thể về chức năng xã hội của tôn giáo. Chức năng xã hội của tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng được hiểu không chỉ dừng lại ở sự giúp đỡ con người bằng các liệu pháp tinh thần như cúng bái, cầu nguyện, tin tưởng… mà còn biểu hiện thông qua những hành động mang tính thực tiễn thông qua sự hỗ trợ vật chất của các tôn giáo trong thực lực của mình[9].
Mặt khác, trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay, để thực hiện tốt chính sách an sinh và phúc lợi xã hội cho các đối tượng xã hội bắt buộc phải có sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội, các tổ chức tư nhân, các cá nhân có chung tấm lòng hướng về tha nhân, vì sự phát triển của cộng đồng. Nhà nước sẽ giữ vai trò giám sát và đề ra chủ trương, chính sách, tạo điều kiện họat động. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh: “Phải huy động các nguồn lực của toàn xã hội để nâng cao an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm mở rộng sự tham gia của mọi chủ thể vào cung cấp ngày càng nhiều hơn với chất lượng tốt hơn các dịch vụ công cộng. Tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân đề cao trách nhiệm, nâng cao năng lực và tham gia thiết thực vào việc bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Khuyến khích phát triển các mô hình an sinh xã hội tự nguyện ở cộng đồng, các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công cộng theo cơ chế phi lợi nhuận và các hình thức hợp tác công - tư. Đẩy mạnh các cuộc vận động xã hội như: ngày vì người nghèo, phong trào tương thân tương ái, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết dân tộc..” [10]. Vì vậy, với chủ trương này, Phật giáo Việt Nam sẽ ngày càng có vị trí quan trọng, cùng với nhà nước, đóng góp trong việc giải quyết các vấn đề xã hội đang tồn tại, đặc biệt ở nông thôn và góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Với nông thôn nước ta, do có quá trình gắn bó lâu đời, Phật giáo còn là một nguồn lực xã hội quan trọng trong việc tham gia vào sự phát triền và giải quyết các vấn đề phát sinh của cộng đồng. Lý thuyết phát triển cộng đồng cho rằng, các tổ chức xã hội tại cộng đồng thường có những vai trỏ nhất định bởi đó là các tổ chức do người dân tự nguyện lập lên nhằm đáp ứng các nhu cầu đã xác định cụ thể nào đó, nó thường bền vững do có cơ sở tại chỗ. Trong mỗi cộng đồng nông thôn, các tổ chức, nhóm lập ra bởi rất nhiều nhu cầu, từ các vấn đề kinh tế, tín dụng, các dịch vụ xã hội cơ bản như nước sạch, học hành, y tế và chăm sóc sức khỏe, cho đến nhu cầu văn hóa tinh thần như thờ cúng, cố kết cộng đồng. Đó có thể là các tổ chức được thành lập lâu đời, các tổ chức mới thành lập, các tổ chức như một phần của hệ thống chính quyền hoặc hoàn toàn do một nhóm người dân lập ra[11]. Ngày nay, các tổ chức xã hội của cộng đồng nông thôn nước ta khá đa dạng như Tổ chức dòng họ, hội nghề nghiệp, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, hội nông dân, các nhóm tôn giáo và tín ngưỡng…Với Phật giáo, đó là vai trò gắn kết của Tăng Ni và Phật tử để cùng tham gia hỗ trợ địa phương mỗi khi phát sinh vấn đề của cộng đồng cần giải quyết.
Những năm qua, Phật giáo Việt Nam đóng góp rất nhiều vào cho xã hội nông thôn nước ta, chủ yếu bằng hình thức từ thiện xã hội. Quả thật là khó có thể tổng kết hết những họat động từ thiện vì cộng đồng của Phật giáo cả nước. Nhưng bằng những hành động thiết thực hướng về mọi miền nông thôn Việt Nam của giới Tăng Ni, Phật tử như xây cầu, làm đường ở địa bàn vùng sâu vùng xa, trao nhà tình nghĩa và tình thương cho các đối tượng xã hội, cấp học bổng cho học sinh gặp hoàn cảnh khó khăn đến trường, khám và cấp phát thuốc miễn phí cho bà con nghèo, thường xuyên ủng hộ người dân ở vùng bị bão lũ, thiên tai tàn phá... đã cho thấy mối quan tâm của Phật giáo trong việc chăm lo đời sống của người nông dân Việt Nam. Đây còn là một minh chứng cho thấy tính nhập thế của Phật giáo, thông qua hình thức từ thiện xã hội là chủ yếu. Đặc biệt, trong những họat động này, Phật giáo đã kết nối với nhiều tổ chức, cá nhân tham gia ủng hộ, tạo nên tính liên kết xã hội rộng rãi. Ý nghĩa của điều này là khơi dậy lòng nhân ái, phát huy giá trị nhân bản, hình thành lối sống cao đẹp trong nhiều tầng lớp xã hội khác nhau.
Trong hoàn cảnh hiện nay, một bộ phận người dân nông thôn nước ta chưa có nhiều cơ hội tiếp cận được dịch vụ xã hội[12], trong đó giáo dục và y tế là điển hình, thường là do nhà nước đảm nhiệm. Đây còn hai tiêu chí căn bản để đánh giá chỉ số phát triển con người (HDI). Vì thế, những họat động hỗ trợ của Phật giáo Việt Nam đến những đối tượng nghèo ở nông thôn, tạo cơ hội cho họ được thụ hưởng miễn phí dịch vụ giáo dục và y tế, có ý nghĩa rất lớn trong việc giúp người nghèo nâng cao đời sống và tìm kiếm cơ hội vươn lên. Trong nhiều năm qua, ở huyện Ba Tri - một địa phương còn khó khăn của tỉnh Bến Tre, Đại đức Thích Thiện Sanh (Chùa An Phước, Xã An Bình Tây), với sự đóng góp của các mạnh thường quân, đã hỗ trợ tiền bạc, nhận nuôi miễn phí học sinh nghèo, đặc biệt sẵn sàng chu cấp khi các em đến với giảng đường đại học. Từ năm 1996 đến nay, nhà sư đã nuôi dưỡng hơn 100 em sinh viên có hòan cảnh khó khăn và phần lớn đều tốt nghiệp cao đẳng, đại học, tìm được việc làm ổn định. Hiện tại, Đại đức Thích Thiện Sanh xây dựng nhiều ký túc xá ở Vĩnh Long, Thành phố Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh làm nơi trú ngụ cho hàng trăm sinh viên nghèo của huyện và chu cấp tòan bộ sinh họat phí, học phí để các em có thể an tâm đến giảng đường mỗi ngày[13]. Có thể xem đây là một tấm gương điển hình của giới Phật giáo Việt Nam trong việc hỗ trợ giáo dục cho người nghèo ở nông thôn hiện nay. Điều này mang ý nghĩa khá thiết thực, bởi việc trang bị học vấn là nền tảng để thoát nghèo hiệu quả nhất. Phòng khám đa khoa từ thiện Long Bửu (Chùa Long Bửu, Xã An Phú, Huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương) do Tỳ kheo ni-bác sĩ Thích Nữ Liên Thanh phụ trách là mô hình tiêu biểu về việc cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho người nghèo hiện nay. Sau khi tốt nghiệp bác sĩ tại Trường Đại học Y khoa Tp.HCM (năm 1997),với lòng từ bi và tâm nguyện giúp đỡ cho những mảnh đời nghèo khó, sư cô về trụ trì Chùa Long Bửu (năm 1999) và bắt tay khởi công xây dựng công trình Phòng khám Đa khoa Từ thiện Long Bửu. Trong giai đoạn từ năm 2002 - 2009, Phòng khám Đa khoa Từ thiện Long Bửu đã khám và phát thuốc miễn phí cho 200.000 bệnh nhân nghèo không chỉ trong tỉnh Bình Dương mà còn ở nhiều tỉnh, thành khác. Trong vòng năm năm qua, Phòng khám Đa khoa Từ thiện Long Bửu đã khám, điều trị, cấp thuốc miễn phí cho nhiều đối tượng xã hội, tặng trang thiết bị cho các cơ sở y tế ở các địa phương nghèo với tổng trị giá trên 8,5 tỉ đồng. Những hoạt động của phòng khám mang một ý nghĩa lớn đối với xã hội, góp phần chăm lo sức khỏe, giảm thiểu bệnh tật và nỗi đau buồn cho những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn ở địa phương. Mặt khác, phòng khám đã tạo được một nguồn vốn của mình khá vững chắc với sự ủng hộ thường xuyên của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước để ngày một lớn mạnh và phát triển[14].Ngòai ra, ở địa bàn nông thôn, Phật giáo còn quan tâm, chăm sóc những đối tượng xã hội cần được giúp đỡ, cụ thể ở đây là trẻ mồ côi, lang thang và người già neo đơn, không nơi nương tựa. Điều này đã góp phần giảm gánh nặng cho cộng đồng, giúp họ giảm thiểu những phiền muộn, lo âu, tránh nguy cơ bị gạt ra lề xã hội và tạo cơ hội hòa nhập lại cuộc sống. Ở Kiên Giang, Trung tâm từ thiện xã hội Phật Quang (xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang), do Đại đức Thích Minh Nhẫn thành lập năm 2002, là một địa chỉ nuôi dạy trẻ mồ côi, lang thang được nhiều người biết đến. Hiện nay, cơ sở nhận nuôi dưỡng và giáo dục 120 em trong điều kiện học tập, sinh họat rất tốt cùng sự giáo dục tận tình của các thầy cô giáo tại đây. Không chỉ học kiến thức văn hóa, các em còn được dạy về kĩ năng sống, học nghề may gia công... để sau trở thành những công dân tốt cho xã hội[15]. Còn ở Trà Vinh, cách đây 6 năm, Ni trưởng Thích Nữ Bửu Lý- trụ trì Chùa Liên Bửu (Xã Hòa Lợi, Huyện Châu Thành) đã thành lập nhà dưỡng lão trong khuôn viên chùa. Đến nay, nhà dưỡng lão có khỏang 40 cụ tá túc, phần lớn trong số họ trong hòan cảnh cô đơn, nghèo và bị con cái bỏ rơi. Nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu là do Phật tử và các doanh nghiệp trong và ngòai tỉnh ủng hộ. Ở chùa, các cụ được chăm sóc sức khỏe thật chu đáo, bác sĩ duy trì việc khám bệnh 3 ngày/tuần. Ngòai ra, hàng tháng, chùa còn tổ chức giảng pháp và khóa lễ sám hối nhằm giúp các cụ hiểu được lẽ vô thường, tập buông xả để được an vui trong buổi xế chiều của đời người[16]. Qua đây, có thể nói rằng, do gắn bó và thấu cảm trước những vấn đề của cộng đồng, các vị Tăng Ni này đã không ngại dấn thân cưu mang những mảnh đời bất hạnh. Đồng thời, theo quan niệm của nhà Phật, đây là tinh thần khế lý, khế cơ, tức tùy duyên hóa độ, hoằng pháp đến chúng sinh. Những mô hình ở trên cho thấy các họat động vì cộng đồng của Phật giáo đã bắt đầu đi vào chiều sâu, không đơn thuần chỉ là họat động từ thiện một ngày một bữa, được xã hội hoan nghênh, đánh giá cao và đóng góp vào việc mở rộng mạng lưới an sinh, phúc lợi xã hội ở nông thôn nước ta trong bối cảnh hiện tại.
- 3. Kiến nghị
Một điều cần thừa nhận, ở phương diện vĩ mô, những hoạt động từ thiện xã hội mang tính chuyên nghiệp và lâu dài như thế của Phật giáo Việt Nam không nhiều và chưa đáp ứng với nhu cầu thực tế, trong đó có khu vực nông thôn nước ta. Gần đây, với tư cách là Phó ban Từ thiện-xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng Thích Như Niệm đã nhìn nhận các họat động từ thiện xã hội của giới Phật giáo cả nước còn manh mún và bị động. Đặc biệt, họat động này chưa hướng đến việc trang bị “cần câu” cho người nghèo để họ tự vươn lên thoát khỏi khó khăn, thiếu nhân lực có nghiệp vụ chuyên môn và phần nhiều là do tấm lòng, chưa phải là những dự án cụ thể mang tính khoa học, bài bản, mang ý nghĩa xã hội thiết thực[17]. Vì vậy, trước tình hình này, cùng với những yêu cầu cấp bách của xã hội nông thôn Việt Nam đặt ra, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần quan tâm đến một số giải pháp cụ thể như sau:
- Thứ nhất, để Phật giáo Việt Nam tham gia vào giải quyết hữu hiệu các vấn đề xã hội nông thôn hiện nay thì nhất thiết phải áp dụng kiến thức và kỹ năng của ngành Công tác xã hội (Social wokrs)[18], đặc biệt là lĩnh vực phát triển cộng đồng. Phát triển cộng đồng là tổng thể những quá trình làm cho cộng đồng biến dạng và có thể dẫn tới những thay đổi về chất. Những biến dạng và đổi thay về chất nào cũng phải đảm bảo những yêu cầu phát triển chung của xã hội, tức là phải đảm bảo sự bền vững của cộng đồng, sự công bằng xã hội cho các nhóm xã hội vốn có những lợi ích riêng, hướng tới xây dựng năng lực tự tổ chức, tự quản lý các vấn đề của cộng đồng trên cơ sở hội nhập được các nguồn lực bên trong và bên ngòai, đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội[19]. Còn cụ thể hơn nữa, đó là việc giúp đỡ các nhóm thiệt thòi có thể cải thiện điều kiện sống và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản như việc làm, nhà ở, có khả năng trả các phí dịch vụ xã hội cơ bản như học hành, chữa bệnh, phát triển cơ sở hạ tầng, tăng quyền lực của người dân trong các quyết định của cộng đồng và cuối cùng là việc giảm nghèo, giảm thất nghiệp, quyền con người và công bằng xã hội được củng cố. Mục đích của phát triển cộng đồng là nhắm đến việc thức tỉnh cộng đồng và tăng năng lực cho họ để cuối cùng họ có thể tự lực giải quyết vấn đề của cộng đồng mỗi khi phát sinh.Áp dụng phát triển cộng đồng vào giải quyết các vấn đề xã hội nông thôn nước ta vừa cấp bách vừa có tính khoa học, đem lại hiệu quả rất lớn. Vì vậy, Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên phối hợp với một số trường đại học có đào tạo ngành Công tác xã hội[20] để đào tạo nguồn nhân lực của mình trong lĩnh vực từ thiện xã hội, đặc biệt ở khu vực nông thôn, chú trọng trang bị kĩ năng và kiến thức về phát triển cộng đồng. Được biết, Ban Từ thiện-xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã phối hợp với Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM đã mở lớp cấp chứng chỉ Công tác xã hội, nhưng vẫn còn quá ít so với nhu cầu hiện tại. Với thực tế các vấn đề xã hội nông thôn đương đại, thông qua nguồn nhân lực khá đông đảo và có kiến thức bài bản, nhiều kinh nghiệm, chắc chắn Phật giáo Việt Nam sẽ tạo được những thành tựu đột phá trong họat động từ thiện xã hội ở nông thôn nước ta. Đây là tiền đề vững chắc góp phần đưa Phật giáo gắn bó chặt chẽ với xã hội nông thôn Việt Nam đương đại. Và, tinh thần hộ quốc an dân của Phật giáo Việt Nam sẽ được kế thừa và phát huy hơn nữa trong lòng dân tộc.
- Thứ hai, trong thời gian tới, những họat động giúp đỡ người dân nông thôn của Phật giáo Việt Nam cần được tổ chức theo mô hình chuyên nghiệp, nhất là vai trò tiên phong của các dự án phát triển cộng đồng sẽ cải thiện cuộc sống của họ rất nhiều với tính bền vững và hiệu quả, góp phần hạn chế tình hình manh mún, tự phát như đã đề cập. Vì vậy, Ban Từ thiện xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên đề xuất thành lập một số trung tâm chuyên xây dựng và điều phối thực hiện một số dự án hướng đến việc đào tạo nghề, cung cấp nước sạch, hỗ trợ giáo dục, chăm sóc sức khỏe, cải thiện môi trường,.... để góp phần vào việc giải quyết các vấn đề xã hội đang nổi cộm ở nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay. Đồng thời, mục tiêu của các dự án phải luôn bám sát tình hình thực tiễn vấn đề xã hội ở nông thôn và chú trọng thực tế ở từng địa phương khác nhau, đề cao tính tự lực ở bản thân từng cộng đồng, khắc phục tâm lý dựa dẫm và chờ đợi sự giúp đỡ từ bên ngoài. Trước năm 1975, ở miền Nam Việt Nam, Trường Thanh niên phụng sự xã hội của Phật giáo thời đó đã đào tạo hàng ngàn thanh niên, trong đó có nhiều vị Tăng Ni, đi về các miền quê để giúp đỡ người dân tái thiết lại cuộc sống do chiến tranh tàn phá. Họ hỗ trợ người dân về giáo dục, y tế, việc làm, tổ chức cuộc sống theo tinh thần những người dân phải tự mình bắt đầu lo cho cuộc sống của họ[21].
- Thứ ba, Ban Từ thiện xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên đánh giá và tổng kết các mô hình cơ sở xã hội ở nông thôn nước ta. Việc làm này nhằm thấy được điểm mạnh, yếu cùng những khó khăn của họ để có kế họach hỗ trợ và chia sẻ kinh nghiệm trong họat động, trang bị các kỹ năng và kiến thức cần thiết. Đồng thời, nên giới thiệu, tuyên dương các cá nhân, tổ chức điển hình để giới thiệu cho giới Phật giáo cả nước nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung nhằm khơi dậy tấm lòng nhân ái, cùng kết nối chia sẻ lẫn nhau. Ở đây, vai trò của Tăng Ni, Phật tử ở từng ngôi chùa trên mọi miền quê của đất nước rất lớn. Hơn ai hết, chính họ là người thấu hiểu rõ nhất những khó khăn, nhọc nhằn của người dân địa phương. Vì vậy, cách làm từ thiện-xã hội mang tính bền vững, hiệu quả và lâu dài không phải thỉnh thoảng đến dịp hay lúc địa phương gặp vấn đề mới tổ chức những chuyến đi từ thiện mà là thông qua vai trò của tăng, ni ở địa phương để thực hiện nhiệm vụ này một cách thường xuyên bằng những kế hoạch phù hợp với nhu cầu cần hỗ trợ của người dân địa phương. Mặt khác, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến các vị Tăng, Ni trẻ, có tâm huyết với hoạt động từ thiện, có kiến thức hiểu biết về xã hội. Đây là nguồn lực quan trọng để thực hiện các hoạt động xã hội giúp ích cho cộng đồng. Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên giúp họ có điều kiện gắn bó với địa phương và trong quá trình hòa nhập cùng đời sống người dân, họ là người sẽ phát hiện ra nhu cầu cần thiết mà người dân sở tại cần giúp đỡ. Từ đó, các hoạt động xã hội của các vị Tăng Ni này sẽ hướng đến hỗ trợ cộng đồng một cách lâu dài, hệ thống và mang tính hiệu quả cao. Điều này sẽ thúc đầy các hoạt động từ thiện-xã hội của Phật giáo Việt Nam mang tính linh hoạt, sáng tạo, rộng rãi và nhiều hiệu quả xã hội thiết thực[22].
Phật giáo có vai trò rất lớn cho sự nghiệp phát triển nông thôn nước ta ngày nay. Trước nhiều vấn đề xã hội nổi cộm, với tinh thần từ bi của người con Phật, giới Phật giáo cả nước đã có nhiều đóng góp, giúp đỡ người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để họ vượt qua nhiều khó khăn trước mắt. Điều này đã được xã hội ghi nhận. Tuy nhiên, để tăng cường tính hiệu quả hơn nữa, những họat động giúp đỡ bà con nông dân của Phật giáo cần phối hợp với kiến thức và kỹ năng của ngành công tác xã hội, đặc biệt là phát triển cộng đồng. Phật giáo Việt Nam, với đặc trưng mang tính nhập thế, sẽ là niềm động viên để chia sẻ với những khó khăn người nông dân khi họ đối đầu với bệnh tật, ô nhiễm môi trường sống, mất việc làm, bỏ quê xa xứ, nghèo đói,....cả về vật chất lẫn tinh thần, nhất là ý thức tự vươn lên thoát nghèo, tin tưởng vào năng lực nơi bản thân. Như vậy, đạo Phật sẽ tiếp tục tỏa sáng trong lòng dân tộc trên bước đường hội nhập và phát triển hiện nay. Hy vọng ngôi chùa Việt mãi là chỗ dựa, nơi chia sẻ những mất mát đau thương, nơi thắp lên niềm hy vọng về cuộc sống và bảo tồn những giá trị tâm linh truyền thống của người nông dân lam lũ, nhọc nhằn bao đời nay./.
Chú thích:
(1) Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của Ban Chấp hành TW khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Báo Sài Gòn Giải Phóng , chủ nhật ngày 17/8/2008, trang 9.
(2) Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của Ban Chấp hành TW khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Báo Sài Gòn Giải Phóng , chủ nhật ngày 17/8/2008, trang 9.
(3) Xem thêm: Nguyễn Tiến Dũng, An ninh đất đai thời kỳ chuyển đổi kinh tế ảnh hưởng đến đời sống nông dân ở nông thôn. In trong: Tạp chí kinh tế và phát triển, số 163, tháng 1/2011, trang 28-33.
(4) Mai Ngọc Anh, An sinh xã hội đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Hà Nội, Nxb.Chính trị quốc gia, 2010, trang 298.
(5) Nhiều tác giả , Nông dân nông thôn và nông nghiệp những vấn đề đang đặt ra, Hà Nội, Nxb Tri thức, 2008, trang 101.
(6) Nguyễn Hữu Dũng, Bảo đảm gắn kết chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong chiến lược phát triển nước ta đến năm 2020, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 163, tháng 1/2011, trang 10-11
(7) Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của Ban Chấp hành TW khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Báo Sài Gòn Giải Phóng , chủ nhật ngày 17/8/2008, trang 9
(8) Về họat động khám chữa bệnh ở nông thôn của Phật giáo, Giáo sư Hà Văn Tấn cho biết: “Và, ngôi chùa trong nhiều trường hợp, đã làm chức năng của một bệnh viện. Một bi kí thế kỷ 14 trên vách núi Non Nước (tỉnh Ninh Bình) cho biết ngôi chùa ở đây đã có một loại ruộng gọi là “bệnh điền” (có nghĩa là ruộng chữa bệnh), thu hoạch ở loại ruộng này hẳn là được chi dùng cho việc chữa bệnh cho dân. Trên núi Yên Tử, vẫn còn những di tích được coi là nơi chế biến dược liệu của các nhà sư xưa kia. Trong nhiều vườn chùa, bên cạnh cây ăn quả, cây cảnh, người ta còn trồng các cây thuốc. Có nhà sư đã trở nên những thầy thuốc giỏi. Nổi tiếng nhất là nhà sư Tuệ Tĩnh, tác giả sách Nam dược thần diệu, ghi lại những bài thuốc hiệu nghiệm, dùng toàn dược liệu cây cỏ Việt Nam. Ván in một số sách của ông cũng được cất giữ trong các chùa”. Dẫn theo: Hà Văn Tấn, Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam, Hà Nội, Nxb.Hội Nhà Văn, 2005, trang 276-277.
(9) Dương Hoàng Lộc, Hoằng pháp trong hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo với những vấn đề xã hội của Việt Nam hiện nay.In trong: Ban Hoằng Pháp TW, Kỷ yếu Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc năm 2011, Bình Dương, ngày 9-13/3/2011, trang 136.
(11) Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang, Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng, Hà Nội, Nxb.Văn hóa thông tin, 2000, trang 65.
(12) Dịch vụ xã hội (Social services) là hành động hay hoạt động bác ái có tổ chức, là chương trình hay phương thức sử dụng nhân viên xã hội và những chuyên viên liên quan để thực hiện mục tiêu an sinh xã hội-tức sự duy trì và làm gia tăng hạnh phúc cho con người trước những hụt hẫng do biến đổi về kinh tế-xã hội, mất việc làm, ốm đau, tuổi già,…Tùy theo mỗi quốc gia mà khái niệm này được hiểu khác nhau. Đặc biệt, các tổ chức tôn giáo là một thành phần không thể không tính đến. Việc cung cấp các dịch vụ xã hội của hệ thống này nhằm hướng đến đáp ứng nhu cầu căn bản của con người, đem đến hạnh phúc của đa số quần chúng nhân dân qua việc cung ứng các dịch vụ sức khỏe, giáo dục, nhà ở,… và làm thăng tiến bộ phận yếu thế, khốn khổ trong xã hội và đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia.Nguồn: Dẫn theo: Nguyễn Thụy Diễm Hương, Tập bài giảng học phần Dịch vụ xã hội dùng cho sinh viên Bộ môn Công tác Xã hội-Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Tp.HCM), bản photocopy, tháng 3/2008.
(13) Tư liệu thu thập riêng của tác giả.
(14) Tư liệu thu thập riêng của tác giả.
(15) Nguồn:www.phật quang.com.
(16) Tư liệu thu thập riêng của tác giả.
(17) Xem: http://www.giacngo.vn/xahoi/2011/10/17/7B664B/
(18) Khác với hoạt động từ thiện xã hội với ý nghĩa hỗ trợ vật chất mang tính nhất thời, công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi trong xã hội, thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề trong quan hệ giữa con người, trao quyền và giải phóng con người đem lại sự bình yên cho xã hội. Vận dụng lý thuyết về hành vi của con người và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào các mặt ở đó con người tác động với môi trường sống của họ. Nguyên tắc về quyền con người và công bằng xã hội là cốt lõi của xã hội. Còn ở Việt Nam, khái niệm này được hiểu là một hoạt động có tính phát triển cao dựa trên những phương pháp và nguyên lý đặc biệt với mục đích hỗ trợ các cá nhân, nhóm người, cộng đồng giải quyết các vấn đề xã hội-vì thế công tác xã hội có nhiệm vụ là vì hạnh phúc của người dân và bình an của xã hội. Các lĩnh vực thực hành của công tác xã hội gồm: Làm việc với người cao tuổi, người liên quan đến ma túy, phúc lợi trẻ em, phát triển cộng đồng ở làng/xóm, làm việc ở trại giam, làm việc với người khuyết tật, dịch vụ gia đình, bảo đảm thu nhập, chăm sóc y tế và sức khỏe, sức khỏe tâm thần, công tác xã hội trong các khu công nghiệp. Nguồn: Nguyễn Hải Hữu (chủ biên), Khung kỹ thuật phát triển nghề công tác xã hội, Hà Nội, Nxb.Thống kê, 2009, trang 7.
(19) Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang, Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng, Hà Nội, Nxb.Văn hóa thông tin, 2000, trang 48.
(20) Hiện nay, tại các trường đại học như: Đại học Lao động-Xã hội, Đại học Mở Tp.HCM, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Tp.HCM),…đều có đào tạo ngành học này với nhiều cấp bậc khác nhau. Tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Tp.HCM) có 2 đơn vị đào tạo, nghiên cứu và thực hành lĩnh vực này là Bộ môn Công tác xã hội và Trung tâm Tham vấn -Thực hành Công tác xã hội.
(21) Nguồn: http://www.daophatngaynay.com/vn/pg-nganh/xa-hoi/pg-td/9139-Lich-su-dao-But-nhap-the.html
(22) Dương Hoàng Lộc, Hoằng pháp trong hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo với những vấn đề xã hội của Việt Nam hiện nay.In trong: Ban Hoằng Pháp TW, Kỷ yếu Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc năm 2011, Bình Dương, ngày 9-13/3/2011, trang 143-144.
[1] Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của Ban Chấp hành TW khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Báo Sài Gòn Giải Phóng , chủ nhật ngày 17/8/2008, trang 9.
[2] Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của Ban Chấp hành TW khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Báo Sài Gòn Giải Phóng , chủ nhật ngày 17/8/2008, trang 9.
[3] Xem thêm: Nguyễn Tiến Dũng, An ninh đất đai thời kỳ chuyển đổi kinh tế ảnh hưởng đến đời sống nông dân ở nông thôn. In trong: Tạp chí kinh tế và phát triển, số 163, tháng 1/2011, trang 28-33.
[4] Mai Ngọc Anh, An sinh xã hội đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Hà Nội, Nxb.Chính trị quốc gia, 2010, trang 298.
[5] Nhiều tác giả , Nông dân nông thôn và nông nghiệp những vấn đề đang đặt ra, Hà Nội, Nxb Tri thức, 2008, trang 101.
[6] Nguyễn Hữu Dũng, Bảo đảm gắn kết chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong chiến lược phát triển nước ta đến năm 2020, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 163, tháng 1/2011, trang 10-11
[7] Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của Ban Chấp hành TW khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Báo Sài Gòn Giải Phóng , chủ nhật ngày 17/8/2008, trang 9
[8] Về họat động khám chữa bệnh ở nông thôn của Phật giáo, Giáo sư Hà Văn Tấn cho biết: “Và, ngôi chùa trong nhiều trường hợp, đã làm chức năng của một bệnh viện. Một bi kí thế kỷ 14 trên vách núi Non Nước (tỉnh Ninh Bình) cho biết ngôi chùa ở đây đã có một loại ruộng gọi là “bệnh điền” (có nghĩa là ruộng chữa bệnh), thu hoạch ở loại ruộng này hẳn là được chi dùng cho việc chữa bệnh cho dân. Trên núi Yên Tử, vẫn còn những di tích được coi là nơi chế biến dược liệu của các nhà sư xưa kia. Trong nhiều vườn chùa, bên cạnh cây ăn quả, cây cảnh, người ta còn trồng các cây thuốc. Có nhà sư đã trở nên những thầy thuốc giỏi. Nổi tiếng nhất là nhà sư Tuệ Tĩnh, tác giả sách Nam dược thần diệu, ghi lại những bài thuốc hiệu nghiệm, dùng toàn dược liệu cây cỏ Việt Nam. Ván in một số sách của ông cũng được cất giữ trong các chùa”. Dẫn theo: Hà Văn Tấn, Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam, Hà Nội, Nxb.Hội Nhà Văn, 2005, trang 276-277.
[9] Dương Hoàng Lộc, Hoằng pháp trong hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo với những vấn đề xã hội của Việt Nam hiện nay.In trong: Ban Hoằng Pháp TW, Kỷ yếu Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc năm 2011, Bình Dương, ngày 9-13/3/2011, trang 136.
[10] Nguồn: http://phapluattp.vn/2010082511008622p0c1013/bao-dam-ngay-cang-tot-hon-an-sinh-xa-hoi-va-phuc-loi-xa-hoi-la-mot-noi-dung-chu-yeu-cua-chien-luoc-phat-trien-kinh-texa-hoi-20112020.htm
[11] Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang, Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng, Hà Nội, Nxb.Văn hóa thông tin, 2000, trang 65.
[12] Dịch vụ xã hội (Social services) là hành động hay hoạt động bác ái có tổ chức, là chương trình hay phương thức sử dụng nhân viên xã hội và những chuyên viên liên quan để thực hiện mục tiêu an sinh xã hội-tức sự duy trì và làm gia tăng hạnh phúc cho con người trước những hụt hẫng do biến đổi về kinh tế-xã hội, mất việc làm, ốm đau, tuổi già,…Tùy theo mỗi quốc gia mà khái niệm này được hiểu khác nhau. Đặc biệt, các tổ chức tôn giáo là một thành phần không thể không tính đến. Việc cung cấp các dịch vụ xã hội của hệ thống này nhằm hướng đến đáp ứng nhu cầu căn bản của con người, đem đến hạnh phúc của đa số quần chúng nhân dân qua việc cung ứng các dịch vụ sức khỏe, giáo dục, nhà ở,… và làm thăng tiến bộ phận yếu thế, khốn khổ trong xã hội và đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia.Nguồn: Dẫn theo: Nguyễn Thụy Diễm Hương, Tập bài giảng học phần Dịch vụ xã hội dùng cho sinh viên Bộ môn Công tác Xã hội-Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Tp.HCM), bản photocopy, tháng 3/2008.
[13] Tư liệu thu thập riêng của tác giả.
[14] Tư liệu thu thập riêng của tác giả.
[15] Nguồn:www.phật quang.com.
[16] Tư liệu thu thập riêng của tác giả.
[18] Khác với hoạt động từ thiện xã hội với ý nghĩa hỗ trợ vật chất mang tính nhất thời, công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi trong xã hội, thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề trong quan hệ giữa con người, trao quyền và giải phóng con người đem lại sự bình yên cho xã hội. Vận dụng lý thuyết về hành vi của con người và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào các mặt ở đó con người tác động với môi trường sống của họ. Nguyên tắc về quyền con người và công bằng xã hội là cốt lõi của xã hội. Còn ở Việt Nam, khái niệm này được hiểu là một hoạt động có tính phát triển cao dựa trên những phương pháp và nguyên lý đặc biệt với mục đích hỗ trợ các cá nhân, nhóm người, cộng đồng giải quyết các vấn đề xã hội-vì thế công tác xã hội có nhiệm vụ là vì hạnh phúc của người dân và bình an của xã hội. Các lĩnh vực thực hành của công tác xã hội gồm: Làm việc với người cao tuổi, người liên quan đến ma túy, phúc lợi trẻ em, phát triển cộng đồng ở làng/xóm, làm việc ở trại giam, làm việc với người khuyết tật, dịch vụ gia đình, bảo đảm thu nhập, chăm sóc y tế và sức khỏe, sức khỏe tâm thần, công tác xã hội trong các khu công nghiệp. Nguồn: Nguyễn Hải Hữu (chủ biên), Khung kỹ thuật phát triển nghề công tác xã hội, Hà Nội, Nxb.Thống kê, 2009, trang 7.
[19] Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang, Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng, Hà Nội, Nxb.Văn hóa thông tin, 2000, trang 48.
[20] Hiện nay, tại các trường đại học như: Đại học Lao động-Xã hội, Đại học Mở Tp.HCM, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Tp.HCM),…đều có đào tạo ngành học này với nhiều cấp bậc khác nhau. Tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Tp.HCM) có 2 đơn vị đào tạo, nghiên cứu và thực hành lĩnh vực này là Bộ môn Công tác xã hội và Trung tâm Tham vấn -Thực hành Công tác xã hội.
[22] Dương Hoàng Lộc, Hoằng pháp trong hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo với những vấn đề xã hội của Việt Nam hiện nay.In trong: Ban Hoằng Pháp TW, Kỷ yếu Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc năm 2011, Bình Dương, ngày 9-13/3/2011, trang 143-144.




























