Nghi lễ Phật giáo đồng hành cùng dân tộc
Nghi lễ Phật giáo đồng hành cùng dân tộc
NGHI LỄ PHẬT GIÁO ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC
Hòa thượng Thích Trí Tâm
Trưởng Ban Nghi Lễ Trung ương GHPGVN
1. Dẫn nhập:
Trong quá trình du nhập, tồn tại và phát triển suốt chiều dài 2.000 năm lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nghi lễ Phật giáo luôn là một trong những nhân tố tạo thành tính đặc trưng của văn hóa Phật giáo Việt Nam nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung. Nghi lễ Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, được xem là một trong những chính nhân để Phật pháp được xương minh, lợi lạc hữu tình. Vì vậy, trong suốt chặng đường 30 năm, kể từ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, 30 năm so với chiều dài lịch sử Phật giáo chưa phải là nhiều, nhưng Ban Nghi lễ Trung ương đã hết sức cố gắng hoàn thành trách nhiệm về nghi lễ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đáp ứng nguyện vọng tha thiết của Tăng, Ni và đồng bào Phật tử trong giai đoạn mới - thời hội nhập, nhằm “thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, thượng báo tứ ân, hạ tế tam hữu”.
2. Những thành tựu Phật sự trong hoạt động Nghi lễ Phật giáo:
Trong những ngày Đại lễ như Phật đản, Vu lan, Trung ương Giáo hội đều có thông bạch hướng dẫn tổ chức, từ Trung ương đến địa phương, các cơ sở Tự viện, với nhiều chương trình hoạt động phong phú như diễu hành xe hoa, thuyền hoa, rước kiệu hoa, phóng sanh đăng, thắp nến cầu nguyện hòa bình, chương trình văn nghệ, thuyết giảng ý nghĩa Phật đản sanh, lễ hội ẩm thực chay v.v… tất cả được tổ chức rất trang nghiêm, chu đáo và đạt kết quả tốt đẹp.
Trên tình thần tri ân, báo ân của người con Phật gắn cùng với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, các Tỉnh, Thành hội Phật giáo trong cả nước đã hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử tổ chức Đại lễ Vu Lan báo hiếu báo ân được trang nghiêm, long trọng, đầy đủ ý nghĩa và ổn định trong tinh thần đền ơn đáp nghĩa đối với những người đã khuất và những người còn sống bằng các hoạt động cụ thể, thiết thực.
Đặc biệt, trong tinh thần tri ân và báo ân đối với những Anh hùng Liệt sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, năm nay Trung ương Giáo hội đã có Thông bạch 160 ngày 02/5/2011 hướng dẫn các cơ sở Tự, Viện, Tịnh xá, Tịnh thất, Niệm Phật đường trong cả nước lấy ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7 hàng năm, vào lúc 06 giờ đồng loạt cử 09 hồi Đại hồng chung để cầu nguyện siêu độ cho các Anh hùng Liệt sĩ. Việc cử 09 hồi đại hồng chung vào ngày Thương binh Liệt sĩ, đây là điểm mới, là nghĩa cử cao đẹp về truyền thống tri ân, báo ân của dân tộc và của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tiếng đại hồng chung được gióng lên vào một thời khắc nhất định trong ngày Thương binh Liệt sĩ đã nói lên ý nghĩa tình người của dân tộc và Phật giáo Việt Nam, Nghi lễ Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc.
Ngoài những ngày Đại lễ, với lòng thành kính vô biên và tinh thần tri ân, báo ân của người con Phật, tại Văn phòng Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội và các cơ sở Tự viện liên hệ đã tổ chức những buổi lễ tưởng niệm rất trang nghiêm trọng thể như Lễ Kỷ niệm Bồ tát Quảng Đức và chư vị Thánh tử đạo, Đại lễ Kỷ niệm Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập diệt, Lễ Kỷ niệm 1000 năm Quốc sư Khuông Việt viên tịch, Lễ kỷ niệm Chư Sơn Thiền đức Hội đồng Trưởng lão của các tổ chức Giáo hội, Hệ phái Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ, Chư Tôn đức Giáo phẩm Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã viên tịch; đồng thời tổ chức Tang lễ chư Tôn đức giáo phẩm Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự, chư Tôn đức giáo phẩm lãnh đạo các cấp Giáo hội trang nghiêm và trọng thể.
Ngoài ra, Trung ương Giáo hội, Ban Trị sự Tỉnh, Thành hội Phật giáo trong cả nước đã tổ chức nhiều Đại lễ Tưởng niệm cầu siêu anh linh anh hùng liệt sĩ và đồng bào tử nạn trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc như Đại lễ cầu siêu tại huyện đảo Phú Quốc; Đại Lễ cầu siêu tại các ngôi chùa trên đảo Trường Sa, Đại lễ cầu siêu tại đường 9 – Hồ Chí Minh; Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn tỉnh Quảng Trị; và tại nghĩa trang liệt sĩ nhiều tỉnh khác trong cả nước, Đại lễ tưởng niệm các bậc tiền nhân có công trong việc mở mang bờ cõi Việt Nam đã thể hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam và tinh thần tri ân, báo ân của Đạo Phật, là một truyền thống văn hóa nhân văn tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Trong cuộc sống, ngoài nhu cầu vật chất, nhu cầu về đời sống tâm linh cũng không thể thiếu. Vì thế, Nghi lễ Phật giáo luôn được xem là một trong những giá trị văn hóa đạo đức quan trọng để xương minh Phật pháp, bảo tồn và phát huy văn hóa Phật giáo trong lòng dân tộc. Để đáp ứng nhu cầu tâm linh của người Phật tử, ngoài các nghi lễ cầu an đầu xuân – tết Nguyên đán, Rằm tháng Giêng, Đại lễ Phật đản, Vu Lan Báo Hiếu ngày Rằm tháng Bảy – ngày xá tội vong nhân, ngày đền ơn đáp nghĩa, Lễ Phật xuất gia, Thành đạo, nhập Niết bàn, Lễ vía Bồ tát Quán Thế Âm, Lễ vía Đức Phật A Di Đà và các lễ hội truyền thống khác cũng được tổ chức theo từng địa phương tại các Tự viện, Tịnh xá, Tịnh thất, Niệm Phật đường đều mang đậm nét tinh thần Phật giáo hòa quyện với dân tộc, đi vào lòng dân tộc như nước với sữa.
Kính bạch chư Tôn đức,
Kính thưa quý Liệt vị.
Nghi lễ luôn mang tính kế thừa và phát huy, phát huy để hòa nhập với cuộc sống thực tiễn. Từ đó để có sự đồng thuận cùng thống nhất tạo thành nghi lễ chung cho cả nước, đặc biệt là các Nghi lễ chính trong ngày Phật đản, Vu lan... được sự chấp thuận của Ban Thường Trực Hội đồng Trị sự Trung ương, Ban Nghi lễ Trung ương đã 2 lần tổ chức Hội thảo Nghi lễ. Đây có thể là dịp để các Bộ phận Nghi lễ nói lên tính đặc thù nghi lễ của từng vùng, từng miền và từ đó mới có thể hướng tới có một nét nghi chung cho cả nước trong các nghi lễ trọng đại của Phật giáo Việt Nam.
Ngoài ra, để thống nhất việc thọ trì các thời khóa hằng ngày tại các Tự, Viện... Ban Nghi Lễ Trung ương cũng đã biên soạn và in Kinh Nhựt Tụng Tiếng Việt ấn hành cho toàn thể Tăng Ni và Phật tử trong cả nước đọc tụng.
Để cho Ban Nghi lễ Trung ương được tiếp tục hoàn thành sứ mạng của mình trong công tác phục vụ Nghi lễ, chúng tôi xin mạo muội có những kiến nghị như sau:
- Đề nghị Trung ương Giáo hội nghiên cứu và có kế hoạch về việc tổ chức giảng dạy Nghi lễ Phật giáo tại các trường Phật học và tiến tới thành lập một Phân khoa Nghiên cứu Nghi lễ Phật giáo tại các Học viện Phật giáo Việt Nam, Trường Cao Đẳng Phật học.
- Đề nghị biên soạn chương trình, giáo trình, giáo án giảng dạy Nghi lễ Phật giáo tại các trường Phật học và các trường Hạ trong cả nước.
- Đề nghị cần có sự phân định về Nghi lễ dành cho giới xuất gia và giới cư sĩ tại gia. Cần chấn chỉnh cách xưng hô, trang phục của Tăng, Ni các cấp.
- Đề nghị Ban Trị sự các tỉnh, thành hội Phật giáo khi tổ chức các đại hội, lễ hội, giới đàn v.v…cần tham khảo ý kiến với Ban Nghi lễ Trung ương và phối hợp nhuần nhuyễn, đồng bộ với ngành Nghi lễ của tỉnh, thành hội Phật giáo địa phương để việc tổ chức được trang nghiêm, trọng thể theo đúng nghi lễ truyền thống Phật giáo.
Kính bạch chư Tôn đức,
Kính thưa quý Liệt vị.
Nghi lễ Phật giáo luôn là một trong những nhân tố quan trọng để xương minh Phật pháp, bảo tồn và phát huy văn hóa Phật giáo trong lòng dân tộc. Trong mọi sinh hoạt của Tự viên, Tăng Ni và Phật tử luôn gắn liền với Nghi lễ, bởi vì nghi lễ luôn có vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh. Cổ nhân đã dạy: “Nghi tại tướng, Lễ tại tâm” và “Hữu oai khả úy, hữu nghi khả kính” . Trong hoàn cảnh hiện nay, khoa học kỹ thuật ngày càng phât triển, nghi lễ Phật giáo phải vừa phù hợp với truyền thống vừa đáp ứng sự nghiệp thống nhất Phật giáo Việt nam theo tiêu chí: “Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức”.
SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHÌN TỪ TRIẾT LÝ PHẬT GIÁO
TT. Thích Phước Đạt
Phó ban Văn hóa Trung ương GHPGVN
Nhìn một cách khách quan trên bình diện diện xã hội, trong những năm gần đây một số nước châu Á đang có tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ. Ngay cả Việt Nam tốc độ phát triển kinh tế cũng đạt những thành tựu đáng kể.
Các nhà kinh tế cho rằng, một trong những bài học lớn của khoa phân tích kinh tế (économétrie) là thừa nhận sự phát triển kinh tế bằng những yếu tố đơn thuần kinh tế. Nhưng vấn đề không phải vậy, thiết nghĩ ngoài những yếu tố về tự nhiên và kinh tế, còn có một yếu tố khác nữa cực kỳ quan trọng, đó là yếu tố văn hóa tâm linh với những hệ quả tâm lý và xã hội của chúng. Có thể xem đây là một trong những nhân tố làm đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế nước nhà từ điểm nhìn văn hóa Phật giáo.
Có thể nói, nét chung của nền văn hóa mà chúng tôi đề cập trên là Phật giáo, là thành phần Phật giáo trong nền văn hóa của các nước này. Tất nhiên là còn có những thành phần khác của nền văn hóa, như đạo Khổng ở Trung Hoa, Thần đạo ở Nhật. Thế nhưng, nét chung xưa nhất cho nền văn hóa các nước hữu quan vẫn là Phật giáo. Cũng có thể nói văn hóa Phật giáo đã hòa quyện vào trong mỗi nền văn hóa dân tộc mỗi nước, khó mà tách bạch rõ ràng được trong sự phát triển kinh tế, đời sống xã hội...
Khi phát biểu như vậy, không phải ai cũng đồng thuận quan điểm này. Đối với những người chưa tìm hiểu sâu đạo Phật, khách quan cho rằng đạo Phật với một triết lý chủ trương diệt dục, làm sao thúc đẩy để phát triển kinh tế, cũng như kích thích nhu cầu tiêu dùng. Nếu nhìn không sâu, đôi khi chúng ta cũng thấy hình như Phật giáo chống đối trực tiếp lại mọi thành tựu kinh tế và kỹ thuật khoa học. Cho rằng, cái tâm linh của Phật giáo trái ngược với cái vật chất, hướng nội tâm trái ngược với kỹ thuật, một sự hướng nội trái ngược với hướng ngoại; Sự tìm hiểu bản thân trái ngược với sự tìm hiểu kỹ thuật và kinh tế thị trường; Sự tìm hiểu kiến thức về thế giới, sự cải tạo bản thân trái ngược với sự cải tạo bối cảnh và môi trường; Tinh thần hỷ xả, trái ngược với động cơ hành động; Lý tưởng cuộc sống xuất gia trái ngược với sự dấn thân nhập thế; Sự đoạn trừ dục vọng trái ngược với lòng ham muốn cuộc sống tiện nghi, lợi nhuận, quyền lực, thành công, sự phát triển; Sự an tịnh nội tâm trái ngược với nhiệt tình hành động; ý thức Phật giáo về sự vĩnh hằng trái ngược với phương châm thời gian là vàng ngọc v.v..!!!
Thực ra, Phật giáo trước hết là một thực thể tổng hợp văn hóa, quyết định thái độ của con người đối với thế giới, đối với những người khác và đối với bản thân mình. Cốt lõi của Phật giáo là triết lý duyên sinh và nhân quả nghiệp báo. Không ai có thể sống một mình, con người có vô số mối quan hệ gắn liền với cộng đồng, xã hội, môi trường sống... Điểm đáng nói, Phật giáo còn chủ trương con người là chủ nhân ông của nghiệp, là người thừa tự nghiệp… Và như thế, suy cho cùng, mục đích của đạo Phật có mặt ở đời là diệt khổ, nghĩa là đem đến hạnh phúc cho số đông mọi người.
Hệ quả, Phật giáo đề cao cuộc sống tri túc, tinh thần tập thể mọi quyết định quan trọng, tinh thần vô ngã, sự hy sinh cho lợi ích chung; Tính duy lý, sự phân tích tâm lý với thái độ bình thản, đối với mình cũng như mọi người, ý thức sâu sắc về thời gian, về cuộc đời vô thường, niềm tin ở sự tiến bộ không có giới hạn, ý thức sẵn sàng trao truyền kinh nghiệm và kiến thức cho mọi người, ý thức không xem người đồng sự là phương tiện vật chất (nhằm đạt mục đích của mình). Từ những quan điểm nói trên, cho chúng ta cái nhìn viễn cảnh phát triển kinh tế nước nhà, góp phần giải quyết lạm phát, bình ổn giá cả thị trường tăng đột biến, góp phần giúp mọi người có một đời sống bình an.
Trong đời sống kinh tế thị trường, ai cũng biết muốn phát triển, phải tăng cường đầu tư. Muốn đầu tư, phải tiết kiệm vốn. Tỷ lệ tiết kiệm vốn tùy thuộc thái độ đối với sự hưởng thụ. Người Phật tử hiểu đạo, sống theo đạo hẳn nhiên phải thực hành một nếp sống đạm bạc, tri túc, và cần siêng năng lao động theo tinh thần bát Chánh đạo mà Phật giảng dạy. Huống chi, truyền thống của Phật giáo xưa nay được các thiền sư khuyến giáo cho mọi người là “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực” (một ngày không làm là một ngày không ăn). Rõ ràng Phật giáo đề cao tinh thần tự chủ, độc lập trong vấn đề sinh tồn và phát triển cá nhân, tạo ra cơ sở đóng góp cho cộng đồng. Hơn nữa, ý niệm sâu sắc về cuộc đời vô thường cũng thúc đẩy người Phật tử sống biết đủ, đạm bạc và có một cái nhìn một cách tích cực và thiết thực.
Hơn nữa, một trong những giá trị của đạo Phật đóng góp cho đời là giá trị là thiết thực hiện tại: “Quá khứ không truy tìm, tương lai không ước vọng, chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính tại đây”. Do đó, người dân Phật tử phải luôn ý thức sâu sắc đối với tầm quan trọng thực tiễn hiện tại khiến cho mình năng động hơn, tỉnh táo hơn, làm việc hết mình trong hiện tại. Người Phật tử cần chú trọng đến hành động hiện tại hơn là kết quả của lao động hiện tại, một sự hành động không có chấp thủ, nếu dùng một khái niệm Phật giáo quen thuộc.
Cuối cùng là Phật giáo luôn đề cao về sự ý thức khả năng tiến bộ không giới hạn của con người, sống và làm việc theo tinh thần duyên khởi tính, khiến người Phật tử làm việc khẩn trương tối đa, và luôn luôn học hỏi ở người khác giỏi hơn mình. Học hỏi rất chăm chỉ, người Phật tử thấy không cần phải phát hiện lại những điều mà người khác đã tìm ra được, qua một quá trình lao động khó nhọc.
Cho nên, khi người Phật tử trong vai trò lãnh đạo tối cao của công ty, người đó không nên xem công nhân như là phương tiện, mà là mục đích của công ty mình phụ trách, thì điều đó không có nghĩa là hy sinh mục đích cho phương tiện, mà là xem mục đích như là nội hàm (immanent), trong tất cả mọi phương tiện được sử dụng để đạt tới mục đích đó. Vận dụng nguyên tắc này, hệ quả, công nhân rất mực trung thành và tự hào với công ty của mình, thậm chí sẵn sàng tự nguyện chịu giảm lương để công ty có thể khởi động lên và làm ăn có lãi. Tất nhiên khi công ty phát triển, đời sống cá nhân và gia đình họ đều tăng thêm thu nhập. Và để đền đáp lại, công nhân làm việc thêm giờ tự nguyện, sẵn sàng hiến dâng những sáng kiến ở mọi cấp, chứ không phải từ cấp lãnh đạo công ty mà thôi.
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, các quyết định trong Tăng già Phật giáo bao giờ cũng phải được tất cả mọi thành viên Tăng già tán đồng thì mới có hiệu lực. Có người hỏi, nếu vẫn có một thiểu số phản đối thì làm thế nào? Phương pháp làm cho đến nay vẫn là mở rộng thành phần tham dự, thí dụ mời Tăng sĩ của các tu viện ở gần tham gia thảo luận, làm rõ vấn đề rồi bỏ phiếu, cho đến khi nào đạt được sự nhất trí hoàn toàn mới thôi. Sự nhất trí tương đối không khó lắm trong các hội nghị Tăng chúng là do Tăng già vốn có truyền thống cởi mở, vô ngã, không cố chấp. Hình như càng mở rộng thành phần tham dự, thì càng có thêm dữ kiện hơn, nhiều thông tin hơn để đạt sự nhất trí.
Thiết nghĩ, trong các công ty, thành phần lãnh đạo cũng cần tham khảo các ý kiến tập thể công nhân trên tinh thần thống nhất mới đi đến quyết định quan trọng. Kết quả, là giữa các thành viên của cộng đồng, không có tinh thần cạnh tranh, ganh đua mà là tinh thần hợp tác, đoàn kết vì lợi ích chung của cộng đồng. Kết quả là có nhiều sáng kiến hay, xuất phát từ cấp dưới khi người ta thật tình sống tình nghĩa với nhau.
Rõ ràng, những tư tưởng Phật giáo cơ bản giúp cho sự phát triển kinh tế vĩ mô và vi mô. Thứ nhất là tư tưởng vô thường giúp cho người ta dễ thích ứng với hoàn cảnh mới, yêu cầu mới, công nghệ và kỹ thuật mới. Tư tưởng đó của đạo Phật tương tự như và thậm chí còn tiến xa hơn tư tưởng của Héraclite, là sự vật không những thay đổi liên tục mà còn phải thay đổi. Và điều này không có nghĩa là phủ định truyền thống mà duy trì những cái gì vẫn còn có giá trị sống và tiến bộ trong truyền thống. Truyền thống không phải là một sự áp đặt của quá khứ, mà là một nguồn biện pháp và phương tiện đã được thử thách, có tác dụng thật sự đối với hiện tại và tương lai. Theo quan điểm này, đổi mới kỹ thuật là tất nhiên và tất yếu. Phải tán thành và phải tham gia vào đổi mới kỹ thuật. Nếu cần phải đổi nghề và đổi mới cả lối sống, nó cũng hoan nghênh. Nó giải thích và cho thấy trong những xã hội đó và cả những công ty ở trong đó đều có khả năng tiếp thu những chuyển hướng căn bản, khi cần thiết.
Một tư tưởng Phật giáo khác có liên quan là sự thay đổi trong bản thân khi cần thiết, để thích ứng với hoàn cảnh đổi mới. Đó là tư tưởng Phật giáo nỗ lực tối đa, cải thiện tối đa, đối với cá nhân cũng như đối với toàn xí nghiệp, công ty. Đấy là lý do của hiện tượng: sản phẩm tốt và rẻ của các tổ chức làm kinh tế. Những người lãnh đạo, không thắc mắc quá đáng về vấn đề thị trường, vì họ tin rằng một sản phẩm tốt và rẻ nhất định sẽ có thị trường.
Một đặc sắc nữa của tư tưởng Phật giáo là chủ thể hòa nhập vào khách thể, là một hệ quả của thuyết vô ngã Phật giáo. Người công nhân hay kỹ sư hòa nhập vào xí nghiệp, và công việc chuyên môn của họ. Do đó, năng suất làm việc của mọi người tăng lên rất nhiều.
Thứ hai, tôn chỉ cuả đạo Phật là lấy trí tuệ làm sự nghiệp. Các Phật tử hiểu đạo cần ý thức kẻ thù số một của nó là vô minh nghĩa là không sáng suốt, không hiểu hay hiểu sai. Người công nhân và kỹ sư của xí nghiệp cũng vậy, họ xem học tập, nâng cao trình độ kiến thức và nghề nghiệp của mình là mối quan tâm số một của họ. Người công nhân và kỹ sư Phật tử cần có thái độ học suốt đời, bằng một chương trình bồi dưỡng có tổ chức.
Mặt khác, khoa học và kỹ thuật là mẹ đẻ của phát triển kinh tế. Nếu trong lịch sử tôn giáo thời phong kiến châu Âu, từng có sự chống đối lại tiến bộ kỹ thuật, thì đạo Phật không cố chấp, cởi mở và duy lý hơn. Đạo Phật lấy thuyết nhân quả làm một chủ thuyết nền tảng của nó, mà thuyết nhân quả chính là cơ sở của tư tưởng khoa học hiện đại. Nói cách khác, Phật giáo dễ dàng tiếp thu mọi tư tưởng và phương pháp khoa học kỹ thuật hiện đại. Đạo Phật là tôn giáo điển hình không giáo điều và chống giáo điều. Phật tuyên bố: Ta không phải là kẻ giáo điều mà là một người phân tích (analyste) (Kinh Soubha số 99). Tư tưởng chống giáo điều là một tư tưởng tiến bộ và thúc đẩy tiến bộ trong tất cả mọi lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật và kinh tế.
Một đặc điểm nữa của tư tưởng Phật giáo là không bày tỏ lập trường đối với những vấn đề siêu hình, do đó đã tiết kiệm bao nhiêu là thời giờ và sức lực, dành cho tư duy và hành động sáng tạo. Tính thực tiễn đó của Phật giáo tiến xa tới chỗ biết và làm hợp nhất (Tri hành hợp nhất). Đó cũng là một khía cạnh của tư tưởng phi nhị nguyên (non-dualiste) của Phật giáo. Nó làm cho công tác lý thuyết có hiệu quả hơn, và công tác thực tiễn đúng đắn hơn.
Do đó, công tác giáo dục Phật giáo luôn chú trọng về vai trò lớn của ông thầy, của minh sư tức là ông thầy sáng suốt, hướng dẫn một hay là một số đệ tử, trong học tập cũng như trong mọi mặt khác của đời sống. Trong công ty, tập đoàn kinh tế cũng vậy, cũng cần chuyên gia, hay kỹ sư tài giỏi hướng dẫn một công nhân và học nghề, tạo thành một tập thể sản xuất nhỏ rất đoàn kết và rất có hiệu năng.
Xem ra, nề nếp tư duy và công tác của Đạo Phật cần có dấu ấn rõ nét trong tổ chức và lối tư duy lối làm việc của các tập đoàn, công ty, xí nghiệp phát huy tác dụng như là những yếu tố phát triển kinh tế và sản xuất.
Rõ ràng, nếu biết vận dụng triết lý Phật giáo vào trong lĩnh vực kinh tế thì có khả năng đưa đến sự phát triển đời sống cho mọi người dân. Nếu có thời gian chiêm nghiệm giáo lý của đức Phật qua các lời dạy được ghi lại qua các bản kinh dạy về đời sống vật chất và tinh thần cho người Phật tử tại gia thì sẽ thấy Ngài hết sức quan tâm đến động cơ và nội dung đạo đức của mọi chính sách và thực tiễn phát triển kinh tế. Trong khi đó, các nhà kinh tế học hiện đại lại rất coi nhẹ các vấn đề này. Đối với họ, mối quan tâm hàng đầu là lợi nhuận, là mức tăng trưởng kinh tế. Còn số lợi nhuận và mức tăng trưởng kinh tế đó đòi hỏi một trả giá như thế nào về mặt đạo đức và xã hội, thì họ không quan tâm hay là ít quan tâm.
Đức Phật khẳng định rằng mọi hoạt động của con người – kể cả hoạt động kinh tế cũng vậy, đều phải có nội dung đạo đức, nhằm tới hạnh phúc của bản thân cũng như của đồng loại. Bởi vì đồng tiền, không phải thâu góp bằng bàn tay đạo đức, sẽ là con dao hai lưỡi, sẽ giết chết người chủ của nó.
Xem ra, đồng tiền không thể là cứu cánh của nhân sinh, nếu xem đồng tiền là cứu kính, nó sẽ làm cho con người tha hóa và thất vọng. Giá trị của đồng tiền là ở chỗ nó là phương tiện tạo ra môi trường thuận lợi cho sự tiến bộ đạo đức và tâm linh con người.
Phật không bao giờ ca ngợi sự nghèo khổ. Trái lại, trong kinh Kutadanta (Trường bộ Kinh) và Kinh “Chuyển luân thánh vương tu hành” (Trường A Hàm) Phật giải thích là muốn trừ nạn giặc cướp và trộm cắp thì dùng hình phạt hay là bố thí đơn thuần đều không thể giải quyết triệt để vấn đề. Qua vị Bà-la-môn chủ tế, ở triều vua Mahavijita, Phật giải thích là muốn loại trừ triệt để bọn giặc cướp ở trong nước thì: “Những người nào trong quốc độ nhà vua, nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, thì nhà vua hãy cấp cho những người ấy hạt giống và thực vật. Những người nào trong quốc độ của nhà vua mà nỗ lực về thương nghiệp, thì nhà vua hãy cấp cho họ vốn đầu tư, những người nào trong quốc độ nhà vua, nỗ lực về mặt quan chức, thì nhà vua hãy cấp cho họ thực phẩm và lương bổng. Và những người này sẽ chuyên tâm vào nghề nghiệp riêng của mình và sẽ không nhiễu hại quốc độ nhà vua nữa. Và ngân quỹ nhà vua sẽ được dồi dào, quốc độ sẽ được an cư lạc nghiệp không có tai ương, ách nạn và dân chúng hoan hỷ vui vẻ, cho trẻ con nhảy đùa ở trong lòng, và sống với nhà cửa mở rộng”. (Trường bộ Kinh, trang 241-242)
Nói cách khác, chúng ta muốn dân giàu nước mạnh, mọi người đều an cư lạc nghiệp, thì phải có một kế hoạch phát triển kinh tế toàn diện hợp lý, đảm bảo cho nghề nông, nghề buôn bán phát triển, còn công nhân viên chức thì ăn uống đầy đủ, và đồng lương sống tốt.
Nói tóm lại, đạo Phật không ca ngợi sự nghèo khổ, cũng như không phê phán sự giàu có. Bởi vì, giàu nghèo chỉ là phương tiện, chứ không phải là cứu kính. Cứu kính là sự an lạc thật sự của thân tâm, chỉ có thể đạt tới được bằng đạo đức và trí tuệ. Không những kinh tế dồi dào, mà những điều quý báu nhất của nhân sinh như là sức khỏe dồi dào, thọ mang lâu dài, dung nhan sáng đẹp v.v.. tất cả đều phụ thuộc vào cuộc sống đạo đức và trí tuệ. Trong kinh “Chuyển luân thánh vương tu hành” có đoạn dẫn chứng lời Phật dạy: “Các vị phải siêng năng tu các điều thiện, nhờ điều thiện mà mạng sống lâu dài, nhan sắc thắm tươi và được an ổn, khoái lạc, của cải dồi dào, uy lực đầy đủ...” (Trường A Hàm - 327. Kinh Chuyển luân Thánh vương tu hành)
Trong tinh thần đó, chúng ta phát triển kinh tế là vì để cho tất cả người Việt Nam đều được sống hạnh phúc trong một nước Việt Nam thái bình vững bền. Thế nên, việc thu hút vốn đầu tư để phát triển kinh tế là vì hạnh phúc thật sự của con người Việt Nam, vì sự giàu mạnh và độc lập thật sự của đất nước chúng ta, với một môi trường sống được bảo vệ tốt, những kho tàng tài nguyên thiên nhiên được khai thác và sử dụng hợp lý, vì lợi ích không những của thế hệ hiện nay, mà còn của các thế hệ mai sau nữa, với những giá trị văn hóa truyền thống thắm màu bản sắc dân tộc. Đó cũng triết lý sống Phật giáo đã cung cấp và góp phần giúp cho chúng ta xây dựng một đời sống kinh tế phát triển và tâm linh được thăng hoa trong thời đại hội nhập toàn cầu hiện nay./.
TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG TỪ THIỆN, NHÂN ĐẠO
CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM 30 NĂM THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN
Thượng tọa Thích Quảng Tùng
Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự
Trưởng ban Từ thiện Xã hội TW GHPGVN
Kính thưa…
Trong quá trình tồn tại và phát triển 2000 năm trên đất nước Việt Nam thân yêu, Phật giáo Việt Nam đã sớm hài hòa, gắn bó với dân tộc, xuyên suốt dòng lịch sử truyền bá tư tưởng giáo lý của Đạo Phật. Đặc biệt là trong những giai đoạn thịnh suy của dân tộc, Phật giáo Việt Nam đều tích cực đóng góp công sức của mình, chống lại các thế lực của bọn ngoại bang để đem lại an lạc, hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong thời kỳ lịch sử của dân tộc, danh xưng của Giáo hội dù có khác nhau, nhưng sự nghiệp chủ yếu của Phật giáo Việt Nam vẫn là hoằng dương chính pháp, lợi lạc quần sinh. Văn hóa Phật giáo đã đóng góp rất lớn vào nền tảng văn hóa dân tộc Việt Nam. Triều đại nào biết vận dụng tinh thần giáo lý, tư tưởng của Phật giáo vào công cuộc xay dựng và bảo vệ đất nước thì triều đại đó hưng thịnh, hùng cường và phát triển và chống ngoại xâm thành công nhất, như nhà Lý (1010 – 1225), nhà Trần (1226 – 1400). Những ông vua Phật tử yêu nước, thương dân, tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân có tài trí, mưa lược với sức mạnh đoàn kết lấy dân làm gốc, thương yêu đồng bào, đồng loại. Tình yêu thương đó xuất phát từ tình thần Từ bi – Hỷ xả và Trí tuệ của Phật giáo.
Kính thưa quý vị đại biểu!
Sau 30/4 năm 1975, hòa bình lập lại, đất nước thống nhất, giang sơn thu về một mối, Bắc Nam xum họp một nhà. Đất nước thống nhất là yếu tố mãnh liệt, là bối cảnh vô cùng thuận lợi, là động lực để 9 hệ phái Phật giáo thực hiện nguyện vọng tâm huyết thống nhất Phật giáo thành một tổ chức duy nhất Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà nhiều thế hệ tiền bối đã dầy công tạo dựng.
Qua 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, bằng những thuận lợi khách quan và chủ quan, qua các nghị định 297, 69, 26 của chính phủ, nhất là Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo được Thường vụ Quốc hội thông qua, Chủ tịch nước đã ký Sắc lệnh công bố ngày 29 – 6 – 2004, Nghị định 22/2005 NĐ-CP của Chính phủ ban hành 1/3/2005 để làm cơ sở cho hoạt động tôn giáo thêm được thuận lợi và đạt kết quả hữu hiệu.
Hiện nay nhân loại đang đối diện với những biến động lớn về kinh tế, xã hội, văn hóa trên quy mô toàn thế giới. Thực tế này cuốn hút tất cả các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa cũng như tôn giáo của mỗi nước, mỗi cộng đồng, mỗi cá nhân vào một guồng máy chung, đây là một đặc trưng mới, đánh dấu một thời đại mới – toàn cầu hóa. Nó tạo ra nhiều điều kiện và cơ hội mới để tăng trưởng, lan tỏa nhanh hơn bằng thế mạnh nối kết, hợp tác vượt qua mọi biên giới, rào cản… Nhưng mặt khác nó cũng tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt, đưa đến sự khoảng cách giàu nghèo ngày càng tách xa hơn, có nhiều chuẩn mực văn hóa, tôn giáo, đạo đức, cách tư duy phong cách sống của các dân tộc, các cộng đồng đang bị ảnh hưởng sâu sắc. Để không bị gạt ra ngoài lề, để có thế khẳng định sự tồn tại với bản sắc riêng, mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng, mỗi tôn giáo, mỗi dân tộc, phải tự đổi mới, cách tân và chấn hưng, nhưng vẫn giữ được cái riêng độc lập tương đối, vẫn khẳng định sự tồn tại vốn có với bản sắc riêng trong quan hệ rộng lớn hơn, đa diện hơn, hòa nhập mà không hòa tan.
Kính thưa quý vị !
Phật giáo Việt Nam có bề dầy lịch sử với những giá trị tư tưởng Đạo, Đức, Văn hóa được kế thừa và phát triển những giá trị nhân văn bền vững từ nơi giáo lý của Đức Phật. Với triết lý giải thoát, từ bi và trí tuệ. Hôm nay, Phật giáo với tư cách là một tôn giáo truyền thống của người Việt, với tinh thần “Phục vụ chúng sinh là cũng giàng chư Phật, trang nghiêm thế gian là trang nghiêm cõi Phật”; hòa quyện với tinh thần của người Việt “Lá lành đùm là rách”, “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”, trong 30 năm qua Phật giáo Việt Nam hoạt động từ thiện nhân đạo rất tích cực và có hiệu quả cao. Hiện nay trong toàn quốc có 65 Tuệ Tĩnh Đường, 655 phòng thuốc chuẩn trị Y học dân tộc, một phòng khám đa khoa, đã hoạt động một cách có hiệu quả, khám và phát thuốc trị giá trên 5 tỷ đồng/năm. Chương trình phát triển Tuệ Tĩnh Đường đang mở rộng mạng lưới xuống các Quận, Huyện trong cả nước.
Trong phạm vi cả nước hiện có 165 lớp học tình thương và có 16 cơ sở nuôi dạy trẻ mẫu giáo bán trú, nhà nuôi trẻ mỗ côi, khuyết tật. Cả nước hiện có 6.467 em theo học các lớp học tình thương này, tuy nhiên lực lượng Giáo viên do Tăng, Ni, Phật tử đảm trách còn hạn chế. Để giải quyết sự khó khăn này, Ban Từ Thiện xã hội Trung ương đã tổ chức khóa bồi dưỡng nuôi dạy trẻ cho 92 Tăng, Ni, Phật tử học viên. Ban cũng phối hợp với trường Đào tạo cán bộ Y tế Trung cấp của Thành phố Hồ Chí Minh mở lớp bồi dưỡng cán bộ Y tế sơ cấp thời gian học là 1 năm cho 250 Tăng, Ni, Phật tử cả nước theo học và đào tạo được 98 Lương Y Tuệ Tĩnh Đường để tăng cường hiệu năng hoạt động về y tế và từ thiện xã hội, nhằm góp phần chia sẻ gánh nặng cho xã hội và nhân dân trên tinh thần từ bi, trí tuệ của Đạo Phật.
Bằng tinh thần từ bi cứu khổ của Đạo Phật và Đạo lý của dân tộc Việt Nam “Bầu ơi thương lấy Bí cùng”, Ban trị sự các Tỉnh, Thành hội Phật giáo, Tăng, Ni, Phật tử cả nước, dưới sự chỉ đạo của Trung ương Giáo hội đã nỗ lực vận động tài chính, phẩm vật cứu trợ đồng bào lũ lụt tàn phá thuộc các tỉnh miền Bắc, Miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long, thăm và tặng quà cho đồng bào dân tộc, các tỉnh Tây Nguyên, Tây Bắc.
Đặc biệt, với tinh thần từ bi cứu khổ của Đạo Phật và thực hiện thông bạch 003/TB-HĐTS ngày 04/01/2005 của Ban Thường trực Hội đồng Trị sự, Ban Từ thiện Xã hội Trung ương đã kêu gọi chư tôn đức Tăng, Ni và quý mạnh thương quân, ân nhân Phật tử trong và ngoài nước phát đại bi tâm, đóng góp tịnh tài để cứu trợ những nạn nhân vùng Đông Nam Á bị cơn động đất gây nên sóng thần tàn phá và động đất tại Nhật Bản.
Ngoài ra Tăng, Ni, Phật tử cả nước đã nhiệt liệt hưởng ứng các phong trào ích nước lợi dân, đền ơn đáp nghĩa ửng hộ Nhân dân Cu Ba anh em, ủng hộ nạn nhân nhiễm chất độc Tréc-No-Bin Liên Xô cũ (nay là Liên bang Nga), xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, xây dựng ủng hộ tuyến đầu Tổ quốc, chiến sĩ biên phòng, hải đảo, thăm viếng ủy lạo thương bệnh binh và bệnh nhân nghèo khó tại các bệnh viện, trại tâm thần, nhà dưỡng lão… nhất là chương trình tư vấn chữa trị cho những bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS có hiệu quả bước đầu, chi phí hàng tỷ đồng. Xây giếng, mổ mắt, tặng xe lăn, xe đạp, tặng học bổng…
Bên cạnh công tác từ thiện xã hội, những công tác phúc lợi xã hội khác như xây cầu bê tông, đắp đường giao thông nông thôn, hiến máu nhân đạo, đóng góp quỹ vì người nghèo, học sinh hiếu học, giúp phụ nữ nghèo vượt khó. Mổ tim nhi, phát quà tết, quà trung thu cho các cháu thiếu nhi, nồi cháo tình thương, bữa ăn từ thiện cho bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện, phòng khám đa khoa… đều được các thành viên Ban Từ thiện Trung ương và các tỉnh thành, Tăng, Ni, Phật tử tích cực tham gia.
Theo báo cáo từ các đơn vị, công tác từ thiện xã hội ngày cũng được nhiều Tăng, Ni, Phật tử và các doanh nghiệp ủng hộ nhiệt tình. Nên trong 30 năm qua đạt thành tựu to lớn ước khoảng 2020 tỷ đồng.
Thuận lợi:
+ Giáo hội Phật giáo Việt Nam qua 30 năm thành lập và phát triển, với tinh thần đoàn kết, hòa hợp của Tăng, Ni, Phật tử Việt Nam đã góp phần xây dựng và tăng cường các mục tiêu tôn chỉ đúng đắn mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đề ra trong Hiến chương Giáo hội với phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa Xã hội”.
+ Các chính sách pháp luật Nhà nước từng bước cải thiện môi trường mở ra hành lang pháp lý cho công tác từ thiện có nhiều thuận duyên hơn, nhất là từ khi Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo được đưa vào đời sống xã hội.
+ Giáo hội có các mối quan hệ rộng lớn với các tổ chức và cá nhân có tấm lòng từ thiện ở trong và ngoài nước để vận động, hỗ trợ cho các chương trình từ thiện mà Giáo hội khởi xướng.
+ Trên tinh thần từ bi cứu khổ của Đức Phật và truyền thống quý báu của Phật giáo Việt Nam là tự bản thân mỗi vị Tăng, Ni đều ý thức được việc làm từ thiện là trách nhiệm bổn phận của mỗi đệ tử Phật và bằng hành động cụ thể của mình nên lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân làm theo dễ dàng hơn.
+ Với tư tưởng “Vô ngã vị tha” đã thấm nhuần các vị Tăng, Ni, Phật tử bằng thân giáo, khẩu giáo, tạo được niềm tin sâu sắc cho mọi đối tượng và các mạnh thường quân ủng hộ.
Khó khăn:
+ Đội ngũ cán bộ phụ trách, quản lý và các giáo viên lớp tình thương không được đào tạo chuẩn nên còn nhiều hạn chế.
+ Cơ sở vật chất cho các lớp học tình thương, các mái ấm tình thương nuôi dưỡng các cháu mồ côi còn thiếu thốn về nhiều mặt.
+ Chính quyền một số địa phương chưa thông cảm với việc làm từ thiện của Giáo hội nên tạo điều kiện thuận duyên cho công tác này chưa cao.
Kiến nghị:
- Nhà nước tạo điều kiện để Giáo hội Phật giáo Việt Nam xây dựng một nhà thương dành cho đối tượng nghèo, xây dựng tại thành phố Hồ Chí Minh hoặc Bình Dương.
- Nhà nước tạo điều kiện để nâng cao chất lượng giáo dục cho các lớp học tình thương.
- Nhà nước hỗ trợ mặt bằng để Giáo hội tổ chức thành công cơ sở nuôi dưỡng các cụ già cô đơn và các cháu mồ côi quy mô lớn ở những nơi có điều kiện.
- Ban từ thiện các tỉnh, thành hội nên làm đầu mối quy tập các tấm lòng hỗ trợ của Tăng, Ni, Phật tử, các nhà hảo tâm ở địa phương. Rồi kết hợp với Ban Từ thiện Trung ương hoặc các tỉnh, thành bạn để tạo thành sức mạnh lớn hơn khi trợ giúp cho các đối tượng.
- Giáo hội nên xin Nhà nước mở trường dạy nghề miễn phí cho các đối tượng nghèo làm cơ sở xóa đói giảm nghèo bền vững.
Kính thưa quý vị đại biểu !
Trong xu thế hội nhập kinh tế Thế giới, Phật giáo Việt Nam cùng với dân tộc Việt Nam tiếp tục giải quyết cái khổ luân hồi sinh, lão, bệnh, tử, tham, sân, si… nhưng vấn đề khó khăn hơn đó là giúp cho con người chiến thắng được tham sân si vốn là mặt trái của thị trường, đó là chiến thắng ma lực của đồng tiền, của lợi nhuận, là những cái bẫy đưa con người vào chỗ mất nhân tính mù quáng, làm xã hội phân chia giàu nghèo và băng hoại nền đạo đức nhân bản. Với đạo lý hướng nội, Phật tại tâm của Phật giáo góp phần kìm hãm bớt từ mỗi người những tiêu cực của kinh tế thị trường và chia sẻ những phần lợi nhuận cho những người bất hạnh trên tinh thần “Vô ngã vị tha”, thương người như thể thương thân của dân tộc ta.
Tiếp nối tính thần đoàn kết hòa hợp trong lòng dân tộc với sự quan tâm giúp đỡ của các chính quyền và sự lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chúng tôi tin tưởng rằng thời gian tới việc từ thiện của Giáo hội sẽ có nhiều khởi sắc mới, làm vơi đi những nỗi bất hạnh của những đối tượng cần giúp đỡ để cùng nhân dân cả nước xây dựng đất nước giầu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Xin chân thành cảm ơn./.
Ngành Từ thiện Xã hội Phật giáo:
CẦN THAY ĐỔI TƯ DUY TRONG CÔNG TÁC
VÀ TẬP TRUNG SỨC MẠNH CỦA TĂNG NI, PHẬT TỬ
HT. Thích Như Niệm
Ủy viên Ban Thường trực HĐTS
Phó Trưởng Ban Thường trực Ban TTXH TW GHPGVN
Phó Ban Trị sự THPG Tp. Hồ Chí Minh
Kính thưa…
Hòa vào không khí phấn khởi khi Phật giáo đã sống trong sự hòa hợp, thống nhất 30 năm qua. Sở dĩ có sự thống nhất này là nhờ Phật giáo có nền tảng truyền thống văn hóa và sống trong lòng dân tộc cả ngàn năm… từ thời Đinh, Lê, Lý, Trần cho đến hôm nay. Có một thời điểm Phật giáo là Quốc giáo, thể hiện rõ ở cách trị vì đất nước của tiền nhân, xuyên suốt từ cách cai trị, xây dựng đất nước, hòa hiếu với kẻ thù cho đến ứng xử với người dân. Đó là nền tảng để chúng ta đang sống hòa hợp trong một tổ chức Giáo hội duy nhất thống nhất về tư tưởng, tổ chức, hành chánh. Được sự phân công của Giáo hội phụ trách về từ thiện xã hội, Tôi xin có ý kiến như sau:
I. Cần thay đổi tư duy trong công tác Từ thiện Xã hội:
Sẽ có rất nhiều người bảo làm từ thiện “dễ ợt”, nhưng thực tế không phải vậy. Người làm công tác từ thiện ngoài lòng yêu thương, chia sẻ, năng lực tài chánh còn phải biết hoạch định cho số tiền mà mình bỏ ra sao cho xứng đáng. Tức là không đem của bỏ sông bỏ biển mà phải có một ý nghĩa nhất định. Phật giáo đã làm được những gì khi mỗi năm có hàng trăm tỷ đồng cho công tác từ thiện xã hội.
Phật giáo là tôn giáo thể hiện lòng từ bi và chia sẻ, nhưng cách mà các đoàn từ thiện Phật giáo lâu nay làm để giúp đỡ người nghèo theo cách mang quà cứu trợ, tiền mặt, lương thực, quần áo… chưa đem lại sự thay đổi tận gốc rễ. Nói cách khác, giúp họ có cái ăn, cái mặc ngay lúc này và tại đây. Hết hàng cứu trợ rồi thì họ sẽ ra sao? Không ai biết. Vì thế, hết đoàn cứu trợ này đến đoàn cứu trợ khác, người nghèo mang trong mình tâm lý mong đợi và trông mong vào những thứ vật chất mà mình không tự làm ra. Chính lối “cho” nầy đã làm người “nhận” thêm thụ động, mang tâm lý chờ đợi, ỷ lại vào các đoàn từ thiện. Từ thiện Phật giáo đã và đang chọn cách “cho” này. Nhiều người cho đây là lối làm có tác dụng tức thì, tay trao tay, niềm vui nối tiếp niềm vui và người nghèo được chia sẻ ngay tại thời điểm hiện tại mà không phải “đầu tư” về lâu dài.
Hiện nay, các ngành khác của Giáo hội đều có quỹ để chủ động hoạt động, ngành TTXH lại không có quỹ riêng. Làm từ thiện mạnh ai nấy làm, làm một cách tùy tiện, không có sự quản lý xuyên suốt dù ngành được cơ cấu theo từng cấp Trung ương cho đến địa phương. Và, do đó, ngành TTXH Phật giáo chưa có sự đồng thuận và tiếng nói chung, chưa vận động được nguồn lực sẵn có để xây dựng quỹ từ thiện, chưa chủ động thực hiện các chương trình từ thiện mà còn phụ thuộc quá nhiều vào Phật tử và những người ủng hộ. Khi họ bỏ đồng tiền làm từ thiện cũng đồng thời đòi hỏi có quyền điều hành, phải làm như thế này, như thế kia, bắt buộc người đứng chịu trách nhiệm phải phụ thuộc mình. Thiết nghĩ, đó cũng là một đòi hỏi chính đáng khi người tài trợ chưa thật sự tin tưởng vào khả năng quản lý đồng vốn cũng như thiết kế chương trình từ thiện mà mình bỏ khá nhiều tiền vào đấy.
Tôi cho rằng làm từ thiện không dễ như người ta vẫn tưởng, ngày nay làm công tác từ thiện đã là một nghề, người đứng ra vận động từ thiện cũng đồng thời phải là người chủ dự án, cho nên đòi hỏi phải có chuyên môn, chuyên nghiệp cao. Do đó, Phật giáo muốn công tác từ thiện xã hội có hiệu quả cần phải thay đổi tư duy trong cách làm từ thiện, từ đó thay đổi phương thức, nâng cao nghiệp vụ công tác xã hội và phải chủ động nguồn quỹ.
Ở Việt Nam, nghề công tác xã hội mới có từ năm 2009, dĩ nhiên ngành TTXH Phật giáo hoạt động đa phần là những người làm việc thiện xuất phát từ tâm, những nhóm người thiện nguyện, cùng chung tâm nguyện hướng đến người nghèo, trong số đó rất ít người có chuyên môn ngành công tác xã hội. Trong một số đề án cụ thể mà Giáo hội kết hợp với Trung ương Mặt trận Tổ quốc đang thực hiện như đề án phòng tham vấn, hỗ trợ người nhiễm và ảnh hưởng HIV/AIDS tại Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Tiền Giang, Bình Dương … Phật giáo phải học hỏi kinh nghiệm và xây dựng chương trình từ tổ chức phi Chính phủ.
II. Ngành từ thiện xã hội Phật giáo chưa chủ động trong công tác:
30 năm qua, Phật giáo đã hoàn thiện tổ chức, trong đó có 09 Ban và 01 Viện Nghiên cứu Phật học. Viện Nghiên cứu Phật học có vai trò rất quan trọng, phải nghiên cứu và xác định rõ giá trị truyền thống Phật giáo của từng thời kỳ. Khẳng định được những đóng góp có giá trị của Phật giáo trong quá trình hình thành và phát triển đất nước, Phật giáo cứu quốc, vai trò đóng góp của các Thiền sư, Tăng Ni, Phật tử trong công cuộc giữ gìn và phát triển đất nước.
Không chỉ vậy, Viện Nghiên cứu cũng là cơ quan nghiên cứu, đóng góp các vấn đề Phật giáo và dân tộc để giúp Phật giáo đi đúng hướng. Nhờ đó, tất cả các Ban ngành Viện hoạt động và đóng góp theo định hướng cụ thể hơn.
Thật sự trong 30 năm qua, Phật giáo chưa có một công trình từ thiện nào có tầm cỡ để mà hãnh diện nói rằng ngành TTXH Phật giáo đã làm được. Theo điều 20, 21 Nội quy Ban Từ Thiện Xã hội Trung ương, Hiến chương của Giáo hội, ngành TTXH phải được thu về một mối và được sự quan sát của Giáo hội. Ngành TTXH không thể tách rời và hoạt động thiếu sự giám sát của Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội.
Hiện nay, Giáo hội có 40/56 Ban Trị sự THPG có ngành Từ thiện xã hội Phật giáo, được chia làm nhiều mảng hoạt động với nhiều chương trình hoạt động cụ thể và nhân sự được bố trí theo từng mảng hoạt động đó, như cứu trợ, chương trình xây dựng cầu nông thôn, nhà tình thương, cơ sở nuôi dạy cô nhi, người già, khuyết tật, hệ thống Tuệ tĩnh đường, phẩu thuật mắt, học bổng v.v... hàng năm đã vận động đóng góp tài, vật thực hiện các công tác từ thiện trị giá hàng trăm tỷ đồng.
Ngành TTXH GHPGVN hiện có 65 Tuệ tĩnh đường và hàng trăm phòng thuốc nam, châm cứu. Các trung tâm, mái ấm, nhà tình thương tại các tỉnh thành, hiện nuôi dưỡng 2.500 em, trong đó có 1.500 em mồ côi và khuyết tật; nuôi dưỡng hàng trăm cụ già neo đơn. Các phòng tham vấn, hỗ trợ người nhiễm và ảnh hưởng HIV/AIDS tại Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Tiền Giang, Bình Dương. Ngoài ra, còn nhiều hoạt động khác như xây dựng nhà tình thương, cầu giao thông nông thôn, giếng nước, học bổng học sinh, cứu trợ người nghèo, tặng xe lăn xe lắc, hỗ trợ bệnh nhân, hỗ trợ các đối tượng xã hội, hiến máu nhân đạo, hỗ trợ áo quan …
Đó là kết quả mà nhìn vào dễ thấy, thế nhưng nhìn sâu vào thì 30 năm qua, ngành TTXHPG chưa thể nói có một công trình xã hội nào mang dấu ấn. Có chăng là ngành TTXHPG đã mở được một số lớp đào tạo lương y, y tá, giáo viên mần non, nhân viên ngành công tác xã hội… cung cấp nhân lực cho các nhu cầu của Ban TTXHPG Tỉnh, Thành. Tuy nhiên, rà soát lại những người được đào tạo cũng rất ít người hoạt động đúng như chuyên ngành mình đã học.
Thực tế, Tăng Ni, Phật tử rất thích tham gia vào công tác TTXH, thế nhưng bấy lâu nay chúng ta làm từ thiện theo kiểu mạnh ai nấy làm, rồi lấy thành tích báo cáo cho ngành TTXH theo từng cấp. Tuy mới nhìn vào con số thì thấy trị giá rất lớn, thực tế ngành TTXHPG rất thụ động, chưa vận động được sức mạnh của tập thể Tăng Ni, Phật tử, ngay cả một quỹ riêng của ngành cũng chưa có.
Một thực tế nữa, ngay với một việc đơn giản như cứu trợ thiên tai thì ngành TTXHPG cũng không thể chủ động ngay được mà phải chờ xin phép, chờ thông bạch của Giáo hội, rồi mời hội họp để tổ chức… hội thu mới có tiền để cứu trợ người nghèo. “Cứu đói như cứu lửa”, trong lúc hoạn nạn thiên tai, thành ra người bị nạn phải chịu quặc quèo vì đói, vì lạnh… rồi thì cả tháng sau các đoàn TTXHPG mới nối tiếp nhau đến “cứu”, đổ dồn một lúc.
Nêu một thí dụ cụ thể như thế để thấy, do còn vướng cơ chế nên ngành TTXHPG cũng chỉ làm được như những gì đã làm, tức là làm TTXH trong tư thế bị động, thiếu khoa học, thiếu kế hoạch, không có dự án và thiếu chuyên nghiệp.
III. Chưa có mô hình từ thiện điển hình:
Nói đến Phật giáo thì nói đến truyền thống tương thân, giúp đỡ và từ bi, vì thế 30 năm qua Phật giáo đã đồng hành và chung tay góp sức cùng với xã hội xóa bớt đói nghèo, góp sức và có mặt ở mọi vùng miền đất nước để giúp người nghèo vượt qua khó khăn, nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên, nói một cách công tâm, chúng ta chủ yếu làm từ thiện bằng cách mang cho họ một cái bánh, một con cá, một chén cơm mà không trao cho họ “chiếc cần câu, cái cày” để hỗ trợ cho họ phương tiện, để họ tự mình câu cá, tự tìm ra hạt gạo…
Một nguyên nhân dễ thấy là do cơ chế của chúng ta và do thói quen làm từ thiện không đầu không đũa, không quy về một mối, mạnh ai nấy làm. Dẫn đến tình trạng không tôn trọng tổ chức và vì thế cũng bộc lộ rõ sự yếu kém về năng lực quản lý cũng như khả năng tập hợp số đông trong vận động tài, vật và thiếu chuyên nghiệp. Thật sự trong 30 năm qua, TTXHPG chưa có một mô hình cơ sở từ thiện nào có khả năng chủ động nguồn vốn để làm từ thiện hay có một quỹ riêng, mà chủ yếu dựa vào sự đóng góp của Phật tử hay doanh nghiệp. Đây là vấn đề tế nhị nhưng vẫn phải nói ra, vì khi người ta bỏ đồng tiền ra thì họ vẫn muốn được can thiệp vào công việc tổ chức, muốn được quyền bắt người khác làm theo ý mình. Đây cũng là vấn đề “lực bất tòng tâm” hiện nay.
Năm 1987, Ban TTXHPG Tp. Hồ Chí Minh lập Tuệ Tĩnh đường tại chùa Pháp Hoa (Q. Phú Nhuận) để phục vụ cho những đối tượng khó khăn về chăm sóc y tế. Tuệ Tĩnh đường này đã đào tạo khoảng 50 lương y có bằng cấp. Sau khi tốt nghiệp, một số phục vụ tại Tuệ Tĩnh đường, một vài người mở phòng khám riêng, một số đi làm việc khác. Tuệ Tĩnh đường sau một thời gian dài hoạt động đành phải “phá sản”, vì người được giao quản lý lạm quyền, dẫn đến thất thoát. Và điều quan trọng hơn là Tuệ Tĩnh đường hoạt động không hiệu quả, đành phải nghỉ.
Hiện nay, nhân lực Ban TTXHPG thiếu nghiệp vụ chuyên môn. Ở Việt Nam nghề công tác xã hội chỉ mới chính thức được công nhận và đào tạo tại các trường Đại học vào năm 2009. Thực tế Phật giáo có rất nhiều Tăng Ni, Phật tử làm từ thiện nhưng chủ yếu là bằng tấm lòng, chứ thật sự chưa lập được những đề án cụ thể để giúp đỡ người nghèo một cách có hiệu quả.
Làm từ thiện hiện nay, muốn đạt hiệu quả thiết thực, có giá trị phải đồng thời có nhân lực đủ nghiệp vụ chuyên môn, biết hoạch định qua các dự án ngắn, trung và dài hạn một cách rõ ràng, hiệu quả từng giai đoạn. Bằng cách hỗ trợ cho người nghèo phương thức, phương tiện lao động trên mãnh đất của chính họ. Có như thế, người nghèo không chỉ thoát nghèo mà sẽ có ý thức vươn lên bằng chính năng lực, tư duy, cố gắng của chính bản thân họ nơi mà họ đang sinh sống.
Ngành TTXH của Phật giáo muốn hoạt động căn cơ hơn, cần phải đầu tư công sức, thay đổi một số việc làm đã quen là mạnh ai nấy làm. Cần hợp lực, nhất tâm trong mọi hoạt động để công tác TTXH có sức mạnh tổng lực và chủ động. Vì thế, từ thiện sẽ đi sâu đi sát, dễ kiểm soát. Đặc biệt, Giáo hội cũng cần quy hoạch nhân sự cho ngành từ thiện có kiến thức, chuyên môn về công tác xã hội. Từ đó, đề ra các dự án có căn cơ, có tính thuyết phục và thiết thực phục vụ cho lợi ích của Phật giáo và dân nghèo.
VI. Kết luận:
Vừa qua, Hội nghị Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN, báo cáo ngành của TTXHPG (40/56 Ban TTXHPG trong cả nước) 6 tháng đầu năm 2011 đạt 238 tỷ 972 triệu đồng, trong đó Tp. Hồ Chí Minh đạt 72 tỷ đồng. Nhìn vào con số này chắc chắn sẽ có người hỏi “Té ra Phật giáo quá giàu”. Tuy nhiên, cũng có người cho rằng con số này không chính xác, vì lẽ Phật giáo bấy lâu nay vẫn hiện diện một hiện tượng báo cáo thành tích có sự chồng chéo nhau. Đó là một nghi vấn nhưng không phải không có cơ sở khi ngành TTXHPG cũng không thể thoát ra khỏi cơ chế chạy theo thành tích. Đưa ra con số này để thấy chúng ta đã bỏ tiền ra hàng trăm tỷ đồng nhưng đã đầu tư vào một công trình từ thiện nào xứng đáng chưa? Hay chỉ là những con số trên giấy, rồi thì người nghèo vẫn cứ nghèo, một điểm nghèo thì cứu trợ lần này đến lần kia, đoàn này đến rồi đoàn kia lại đến.
Bởi thế, tôi cho rằng cần phải thay đổi tư duy trong công tác từ thiện là vậy. Thay vì tặng cho người nghèo một cục tiền, hay kho lương thực, với số tiền đó người ta có thể mua một con trâu, một cái máy cày để giúp họ ra đồng. Làm từ thiện chuyên nghiệp bắt buộc các nhà hoạt động từ thiện phải lập dự án cho từng nhóm đối tượng, dự án sẽ có tác dụng như thế nào cho từng giai đoạn và quan trọng nhất là đối tượng chính của dự án sẽ được hưởng lợi và lợi ích gì trong thời gian cụ thể.
Dự án cho người nghèo hẳn nhiên phải giúp họ cải thiện đời sống tinh thần, kinh tế hiện tại qua việc trợ vốn hoặc cách thức giúp họ nhận biết năng lực của chính mình, hoặc dạy họ các kỷ năng trong lao động, kinh doanh. Và quan trọng phải giúp họ ý thức rằng những giá trị tinh thần, vật chất này là do anh tự làm ra và phục vụ cho chính anh, phải biết suy nghĩ các khả năng sẵn có để lao động, ý thức vươn lên và làm giàu từ chính nơi mà mình đang sống. Có sự hỗ trợ về tinh thần, có người quan sát kiểm tra, dự án sẽ đi vào hiện thực cộng với ý chí vươn lên của người nghèo thì chắc chắn họ sẽ có sự thay đổi căn cơ hơn. Để làm được việc này, người chủ dự án phải có sự yêu thương thật sự, nhiệt tình, thời gian và bắt buộc người hoạt động từ thiện xã hội phải học, bổ sung kiến thức chuyên môn và biết hành động vì sự tốt đẹp của cộng đồng.
Đâu phải ai cũng có thể làm công tác TTXH, ngoài tiền của, cái tâm tương cảm với các hoàn cảnh đáng thương, khó khăn, còn cần nhiều tố chất khác. Người quản lý công tác TTXH còn phải biết công tâm, minh bạch, có tầm nhìn sâu, nhìn rõ, nhìn xa để biết cách lập và thực hiện đề án xã hội đem đến hiệu quả thiết thực nhất, biến cái không thể thành có thể. Tăng Ni, Phật tử làm công tác từ thiện xã hội không chỉ thể hiện tinh thần từ bi của Đức Phật cứu khổ ban vui bổn phận của một tu sĩ, mà còn thể hiện bổn phận của một công dân.
NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TRUYỀN BÁ PHẬT PHÁP
ĐẾN TẬN VÙNG SÂU VÙNG XA
HT. Thích Thiện Duyên
Trưởng ban Hướng dẫn Phật tử TWGHPGVN
Kính bạch Chư Tôn Giáo Phẩm,
Kính thưa quý vị Đại biểu, Quý Thiện tri thức,
Kính thưa Hội thảo.
Đạo Phật có mặt tại Việt Nam hơn 2000 năm. Tinh thần Từ bi - Trí tuệ, Vô ngã - Vị tha của Phật giáo kết hợp với truyền thống bao dung, độ lượng của dân tộc, đã tạo cho con người Việt Nam tinh thần đoàn kết, hiếu hòa, tương thân-tương ái. Trải qua nhiều cuộc chiến tranh tan thương và ác liệt, dân tộc Việt vẫn tiếp tục đứng lên bảo vệ và xây dựng đất nước, khép lại quá khứ và hướng đến tương lai, xóa bỏ mọi thù hận để cùng hòa hợp chung sống thành một đại gia đình 54 dân tộc anh em, với hai tiếng đồng bào thân thuộc.
Sau ngày thống nhất đất nước, Giáo hội Phật giáo Việt Nam tiếp nối sự nghiệp của chư vị tiền bối Tổ sư, hoằng truyền chánh pháp tuy gặp nhiều trở ngại, nhưng với tinh thần từ bi – hỷ xả và bề dày truyền thống nhập thế độ sanh, Giáo hội Phật giáo Việt Nam vượt mọi khó khăn cùng với bao thế hệ Tăng - Ni, Cư sĩ tiếp tục đóng góp sức mình vào công cuộc xiển dương đạo Pháp và xây dựng đất nước. Trong 30 năm qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu rất đáng tự hào. Điều đó đã khẳng định sự trưởng thành, vững mạnh bền chắc và sâu rộng của Giáo hội. Đặc biệt là công tác truyền bá Phật Pháp đến các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo của Tổ quốc, như: Lễ Quy y cho đồng bào các dân tộc tại Kon Tum 4.000 người, tại Đak Lak 1.000 người (2 đợt), tại Cần Thơ 700 người, tại Bình Phước hơn 5.000 người, (tạo dựng 3 ngôi chùa lớn tại các huyện đảo Trường Sa, cả ngàn thời thuyết giảng Phật pháp,...)
Thành công trong công cuộc hoằng dương Phật Pháp đến vùng sâu, vùng xa như trình bày ở trên rất đáng khích lệ, nhưng tất cả chỉ là bước khởi đầu, khó khăn vẫn chồng chất trong mọi môi trường, tưởng như thân quen nhưng hết sức lạ lẫm của những người dân tộc anh em. Điều đó đòi hỏi những sứ giả của Như Lai phải có ý chí quyết tâm, lòng kiên trì không mệt mỏi.
Kính thưa Hội thảo,
Đồng bào dân tộc chiếm 14% dân số, có những tỉnh ở vùng Tây Bắc, Tây Nguyên đồng bào dân tộc chiếm số lượng lớn. Mỗi vùng có một đặc điểm sinh hoạt, tập quán khác nhau, nhưng cũng đều đóng góp vào sự thống nhất và đa dạng bản sắc văn hóa của quê hương. Lục Tổ Huệ Năng có nói: “Người thì có Nam, Bắc chứ Phật tánh thì nào có Bắc, Nam”, dù Phật giáo Việt Nam có 2000 năm “đồng hành cùng dân tộc”, nhưng chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận lại trong thời gian qua, công tác phát triển Phật pháp đến vùng cao chúng ta vẫn còn nhiều việc chưa làm được. Các tỉnh miền núi phía Bắc, một số vùng cao Tây Nguyên cho đến bây giờ vẫn chưa thấy hình ảnh Phật, bóng dáng của Tăng - Ni, huống hồ gì nói đến tu hành giải thoát an lạc.
Nước trong bốn biển đều có vị mặn, giáo pháp của đức Phật chỉ có một vị là giải thoát, và tất cả những người đệ tử Phật ai cũng có một tâm nguyện là chuyển tải giáo Pháp ấy đến tất cả mọi người, trong đó có những vùng cao, vùng xa, vùng dân tộc ít người, nơi còn thiếu điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội, giao thông liên lạc... Để thực hiện được tâm nguyện này, chúng tôi xin đưa ra một số giải pháp cho Hội thảo cùng xem xét.
1. Thành lập Hội đồng Tư vấn truyền giáo để nghiên cứu, đề xuất tư vấn cho Ban Hướng Dẫn, Ban Hoằng Pháp trong việc thực hiện truyền pháp vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc. Báo cáo kết quả về Hội đồng Trị sự nếu ở cấp Trung ương, Ban Trị sự nếu ở cấp tỉnh, thành.
2. Nâng Tiểu ban Dân tộc trong Phân ban Cư sĩ thành Phân ban chuyên trách đảm nhiệm công tác hoằng pháp đến vùng cao, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số từ trung ương đến tỉnh, thành thuộc Ban Hướng Dẫn Phật Tử. Phân ban này có trách nhiệm nghiên cứu những chính sách, ngôn ngữ tập quán, văn hóa của dân tộc ở vùng cao, vùng xa.
3. Giáo hội cần tranh thủ sự ủng hộ của Đảng, Nhà nước với công tác phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội, trong đó có đời sống tín ngưỡng, tâm linh. Liên hệ chặt chẽ, tăng cường tiếp xúc với lãnh đạo chính quyền các tỉnh vùng cao, xa của đất nước để có sự nhìn nhận đúng đắn vai trò của Phật giáo với Dân tộc và sự giúp đỡ. Xây dựng mỗi xã, huyện có một ngôi chùa làm tiêu biểu. Trong thời gian qua chúng ta đã làm được và có một số thành tựu nhất định như: xây dựng được 3 ngôi chùa tại huyện đảo Trường sa, thành lập một số cơ sở ở miền núi..., đây cũng là tiền đề để Tăng - Ni có điều kiện thực hiện sứ mệnh của mình.
4. Tổ chức nhiều đoàn hoằng pháp, các khóa tu, kết hợp với hoạt động từ thiện đến vùng sâu, vùng xa.. đặc biệt là các vị giảng sinh Lớp Đào tạo Cao trung cấp, Tăng - Ni sinh của các Học viện, các Trường Cao đẳng, v.v... để truyền bá Phật pháp và giúp Tăng Ni trẻ hiểu biết, nhận thức đúng sứ mệnh của mình, thông qua đó tuyển chọn vào thành viên của Ban Hướng Dẫn, Ban Hoằng Pháp và vận động họ sau khi tốt nghiệp ra trường trở lại các vùng này để đảm nhận công tác Phật sự.
5. Cử những Tăng - Ni, Cư sĩ có tài năng, đức độ trong Ban chuyên trách về Dân tộc, đảm nhiệm từng khu vực để giải quyết kịp thời công việc của từng khu vực, đồng thời các vị ấy cũng có thời gian để tập trung vào chuyên môn trong khu vực của mình, tìm ra những giải pháp thích hợp nhất để hoằng dương Phật Pháp. Ưu tiên đào tạo người dân tộc bản xứ.
6. Soạn thảo Kinh sách, băng đĩa, tài liệu Phật Pháp ra các thứ tiếng Thổ dân để giúp đồng bào bản xứ vùng sâu, vùng xa học và tìm hiểu Phật Pháp được dễ dàng. Ban Giáo dục Tăng Ni tổ chức các lớp học tiếng Dân tộc, tuyển chọn những người Dân tộc trẻ có điều kiện từ vùng cao xuống miền xuôi để học tập, tạo điều kiện cho họ về kinh tế tài chánh và học hỏi Phật Pháp, sau khi tốt nghiệp trở về bản xứ, họ là kênh chuyển tải và lan tỏa Phật pháp hiệu quả nhất.
7. Tăng cường các hoạt động từ thiện nhân đạo với các vùng đồng bào dân tộc, vùng cao, vùng xa, thành lập quỹ học bổng, bệnh viện khám chữa bệnh, trường học, trung tâm phục vụ người già...
8. Mỗi năm, Trung ương Giáo hội cũng như Tỉnh, Thành hội, nên dành một phần tài chánh để phục vụ cho hoạt động công tác Phật sự tại vùng cao, vùng xa.
Suốt chặng đường hoằng pháp của chúng ta, đây là thời điểm thích hợp nhất cho việc truyền bá chánh pháp ở vùng sâu, vùng xa. Bởi chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng và chính sách ưu tiên xây dựng phát triển kinh tế xã hội ở vùng cao, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước. Hội thảo lần này là cơ hội tốt, để chúng ta cùng nhau bàn thảo phương thức hoằng truyền ánh sáng từ bi và trí tuệ của đức Phật, trải rộng đến khắp mọi miền đất nước và 54 dân tộc anh em, nhằm thực hiện bản hoài của đức Phật, vì lợi ích của chư thiên và loài người.
Là thành viên trong Giáo hội, tôi xin có mấy điều tâm nguyện, kính trình Hội thảo nhân kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Kính chúc Hội thảo đạt nhiều kết quả tốt đẹp, Giáo hội chúng ta gặt hái nhiều thành quả sáng ngời.
Xin chân thành cảm ơn!
Nhu cầu và giải pháp truyền bá Phật pháp
đến tận vùng sâu vùng xa của tổ quốc
TT. Thích Huệ Thông
UV. Hội đồng Trị sự GHPGVN
Q. Trưởng Ban Trị sự THPG Bình Dương
Nhân kỷ niệm 30 ngày thành lập Giáo hội, chúng tôi xin được đóng góp vài ý kiến nhỏ của mình trong bài tham luận : “Nhu cầu và giải pháp truyền bá phật pháp vùng sâu vùng xa”.
Như chúng ta đã biết, mục đích và ý nghĩa thiêng liêng về sự ra đời của Đức Phật là nhằm khai hóa ánh sáng trí tuệ và khơi nguồn đạo đức trong đời sống nhân gian, Thật vậy, chỉ có phát triển đời sống trí tuệ và đạo đức trong tâm hồn mỗi con người, thì chúng ta mới có thể mang lại nguồn an lạc và chân hạnh phúc trong đời sống. Nhìn lại trong suốt quá trình 30 năm hình thành và phát triển, thì mục đích hoằng hóa độ sanh vẫn luôn là mục đích tối thượng của GHPGVN, thể hiện sứ mạng thiêng liêng cao cả mà Đấng Từ Phụ đã từng chỉ dạy: “Phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật”.
Kể từ ngày GHPGVN được thành lập đến nay đã 30 năm, mặc dù Phật giáo đã phát triển lớn mạnh trên khắp mọi miền đất nước trong suốt thời gian gần một phần ba thế kỷ qua, tuy nhiên công tâm nhìn nhận thì giữa Phật giáo vùng đồng bằng với Phật giáo vùng miền núi, giữa Phật giáo miền ngược và Phật giáo miền xuôi vẫn còn sự chênh lệch khá xa trong việc thọ nhận nguồn văn hóa Phật giáo cũng như tiếp nhận ánh sáng giáo lý Phật Đà. Có thể nói rằng, đây là một sự thiệt thòi đáng tiếc của quần chúng Phật tử vùng sâu vùng xa. Chính vì vậy mà việc truyền bá Phật pháp đến tận vùng sâu vùng xa cần phải được xem là nhiệm vụ hàng đầu của sự nghiệp hoằng pháp độ sanh, nhất là trong thời kỳ Phật giáo phát triển rực rỡ như thời đại ngày nay.
Tính đặc thù của vùng sâu vùng xa:
Một khi nói đến vùng sâu vùng xa chúng ta liên tưởng ngay đến những địa bàn xa xôi cách trở, phương tiện giao thông đi lại chưa được thuận lợi, cơ sở hạ tầng còn khiêm tốn, đời sống kinh tế người dân còn khó khăn, trình độ dân trí còn giới hạn. Đối với những vùng sâu vùng xa thuộc địa bàn miền núi, nơi tập trung đa phần đồng bào dân tộc thiểu số, thì những khó khăn như vậy có chiều hướng cao hơn.
Một điều đáng lưu ý là bà con vùng sâu vùng xa đa phần thiên về tín ngưỡng dân gian, trong đó phần đông bị ảnh hưởng những tập tục hủ lậu, mê tín dị đoan, mà gốc rễ vốn đã ăn sâu trong tiềm thức, lại được truyền thừa qua nhiều thế hệ. Do trình độ dân trí chưa cao, thêm vào đó là điều kiện sinh hoạt văn hóa chưa được đáp ứng thỏa đáng, nên lúc nhàn rỗi, đa phần giới trẻ thường lao vào cờ bạc rượu chè, xem đây là thú vui tiêu khiển. Nếp sống lạc hậu và không có định hướng như vậy lâu ngày trở thành thói quen trong sinh hoạt thường ngày của một bộ phận thanh thiếu niên vùng sâu vùng xa khi chưa có ánh sáng văn hóa Phật giáo soi rọi đến. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, do bản chất thật thà, nên rất dễ bị thành phần bất hảo lợi dụng vào những mục đích không lành mạnh. Điều này dẫn đến việc bất ổn an ninh trật tự chắc chắn là điều khó tránh khỏi.
Nhu cầu thụ hưởng văn hóa tinh thần tại vùng sâu vùng xa và giải pháp:
Do điều kiện và hoàn cảnh còn khó khăn, với một đời sống tinh thần còn khiêm tốn, nên sự khao khát được thụ hưởng đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào vùng sâu vùng xa là nhu cầu chánh đáng cần được đáp ứng kịp thời.
Thật ra, với sự phát triển sâu rộng của Phật giáo trong thời đại ngày nay, thì hiện nay, tại một số địa bàn vùng sâu vùng xa, kể cả những nơi được xem là tận cùng tổ quốc thì cũng đã có ngôi Tam Bảo, chẳng hạn như trên huyện đảo Trường Sa cũng đã có một vài ngôi chùa phục vụ đời sống tín ngưỡng tâm linh cho bà con. Chính vì vậy mà đối với những nơi vùng sâu vùng xa đã có chùa chiền tự viện, thì vị trụ trì những nơi đây cần phải dấn thân hòa nhập, tùy thuận nhân duyên để làm tốt công tác truyền bá Phật pháp.
Đối với một vị trụ trì tháo vát, năng động, tâm huyết với sứ mạng độ sanh, thì việc kết hợp với chánh quyền hay đứng ra vận động tổ chức giao lưu văn hóa nghệ thuật có nội dung giáo dục và giải trí lành mạnh, điều này sẽ phần nào đáp ứng nhu cầu khát khao được thụ hưởng văn hóa tinh thần của bà con, hoạt động văn hóa văn nghệ trước mắt sẽ thay thế những thú vui tai hại và vô bổ. Sâu xa hơn, những hoạt động giao lưu văn hóa văn nghệ đối với bà con vùng sâu vùng xa, sẽ là nhịp cầu gần gũi giúp bà con đến với đạo Phật một cách tự nhiên thân thiện. Nếu thực hiện được điều này, chúng tôi tin tưởng rằng, chẳng những đời sống văn hóa tinh thần của người dân sẽ ngày càng khởi sắc, mà đời sống đạo đức tâm linh cũng sẽ trở nên thuần thục.
Trong vai trò đồng hành, tích cực đưa ánh sáng giác ngộ của Phật Đà đi vào đời sống, đồng thời phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội quan tâm, các vị trụ trì tại vùng sâu vùng xa, cần tranh thủ tham gia các hoạt động công ích xã hội, tham gia các cuộc vận động do địa phương phát động vì lợi ích cộng đồng để tạo sự gắn bó hài hòa với bà con, qua đó góp phần phát huy được những giá trị tinh thần tốt đẹp, loại bỏ được những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, bảo tồn được nét văn hóa truyền thống tiêu biểu.
Trên căn bản của nền móng từ bi trí tuệ và trên thực tiễn đời sống tu tập hành đạo của Tăng Ni Phật tử thì đạo Phật chính là một một nền giáo dục đạo đức nhân cách cho con người và khơi nguồn tuệ giác trong chốn nhân gian, góp phần vào sự nghiệp giáo dục đạo đức trong đời sống cộng đồng xã hội, góp phần không nhỏ vào việc ổn định an ninh trật tự xã hội tại địa phương một cách lâu dài bền vững. Nói một cách cụ thể hơn, những vị trụ trì tại các vùng sâu vùng xa cần phải gương mẫu trong các công tác liên quan đến giáo dục, từ thiện xã hội, góp phần tăng cường mối quan hệ tình làng nghĩa xóm, động viên và vận động hỗ trợ bà con tín đồ Phật tử xóa đói giảm nghèo, tăng cường tinh thần đoàn kết trong khu dân cư và xây dựng môi trường đạo đức văn hóa lành mạnh.
Thuận lợi trong công tác hoằng pháp tại vùng sâu vùng xa:
Như chúng tôi đã trình bày, đặc điểm tâm tánh của người dân vùng sâu vùng xa đa phần thật thà chất phác, tinh thần thoải mái cởi mở thân thiện. Họ rất dễ tin vào những hiện tượng thiêng liêng mầu nhiệm theo cảm tính chứ không cần động não hay phân tích sâu xa, đã vậy một khi họ đã tin vào điều gì thì niềm tin rất mãnh liệt. Đây cũng là yếu tố thuận lợi để các nhà hoằng pháp tranh thủ gieo vào tâm thức họ hạt giống từ bi trí tuệ và đạo đức tâm linh.
Một điều nữa, dù nói là vùng sâu vùng xa, nhưng kỳ thật nơi nào trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta cũng có người nhân sĩ, cũng có người trí thức sinh sống. Họ có thể là một thầy cô giáo, một y tá, một cán bộ văn hóa thông tin, một bậc cao niên đã từng trải nghiệm đường đời hay những thanh niên có học vấn… dù thành phần này chỉ là số ít, tuy nhiên họ lại là lớp người được bà con tin cậy. Để công tác truyền bá Phật pháp thuận lợi, các nhà hoằng pháp cần để tâm nhiều đến họ, bởi thành phần này, một khi đã thâm nhập Phật pháp thì họ sẽ là những “hoằng pháp viên” nhiệt tình và thấu hiểu tâm lý cũng như tâm tư nguyện vọng của bà con nhiều nhất. Có thể nói họ chính là cơ sở nòng cốt trợ lực rất nhiều cho ngành hoằng pháp.
Do đặc điểm và điều kiện sinh hoạt văn hóa của bà con vùng sâu vùng xa còn hạn chế, nên các hoạt động văn hoá nghệ thuật rất dễ thu hút người dân đến tham gia. Chính vì vậy, các nhà hoằng pháp trẻ nên quan tâm đến việc tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ mang nội dung giáo dục đạo đức và chuyển tải thông điệp Phật pháp đến bà con. Đây cũng là một trong những thuận lợi để các nhà hoằng pháp trẻ phương tiện dẫn dắt bà con vào nghôi nhà Phật pháp.
Khó khăn trong công tác hoằng pháp tại vùng sâu vùng xa và giải pháp:
Như chúng ta đã biết, một trong những khó khăn lớn nhất trong việc tiếp nhận ánh sáng Phật pháp của bà con vùng sâu vùng xa, đó là trình độ dân trí của người dân còn thấp, điều này ảnh hưởng rất lớn đến việc thông hiểu giáo lý nhà Phật.
Mặc khác, bà con vùng sâu vùng xa, đa phần mang nặng tín ngưỡng thờ cúng dân gian, tư tưởng và giáo lý với những thuật ngữ Phật pháp rất khó lãnh hội và đối với họ hãy còn xa lạ, điều này dễ dẫn đến mặc cảm, thiếu tự tin khi bước vào nhà Phật, vì không thấu hiểu và sâu sát Phật pháp, nên dần dần họ xem đạo Phật như là tín ngưỡng dân gian, nếu có dịp đến một ngôi chùa nào đó, thường thì họ chỉ quan tâm đến việc cầu xin phước lộc, cúng sao, giải hạn chứ không quan tâm đến việc tìm hiểu, học hỏi giáo lý. Đây là một trong những khó khăn rất lớn đối với các nhà hoằng pháp.
Tuy nhiên, dù trình độ dân trí còn giới hạn, nhưng tâm hồn bà con cũng rất nhạy cảm và dễ dàng phân biệt đúng sai phải quấy, nhất là họ rất dễ phát sinh thiện tình thiện chí đối với tình cảm chân thật, họ cũng dễ dàng đón nhận những điều hay lẽ phải phù hợp với đạo đức truyền thống của tổ tiên và những nghĩa cử cao đẹp hiển bày trong đời sống hằng ngày. Nắm bắt được điều này, các nhà hoằng pháp chỉ cần có một nền tảng giới hạnh và thể hiện một đời sống gần gũi hòa đồng, tạo nhân duyên tiếp xúc thân thiện, chia sẻ giáo lý với bà con một cách cởi mở tự nhiên, có nội dung gần gũi dễ nghe dễ hiểu.
Tại những địa bàn vùng sâu vùng xa, đa phần hoàn cảnh đời sống người dân còn nghèo khó, nên bà con luôn phải tất bật với công việc mưu sinh, bên cạnh đó có nhiều nơi chưa thành lập cơ sở Phật giáo, chính vì vậy mà công tác hoằng pháp thường gặp nhiều khó khăn trở ngại. Do vậy, bước đầu của công tác hoằng pháp tại những vùng sâu vùng xa, chúng ta nên chú trọng đến công tác từ thiện xã hội, bởi xuất phát từ trải nghiệm thực tế trong công tác hoằng pháp đã cho chúng tôi thấy rằng, vị Tăng Ni nào hoạt động xã hội nhiều thì trong công tác hoằng pháp thường gặp thuận lợi hơn.
Một vài giải pháp cho công tác truyền bá Phật pháp đến vùng sâu vùng xa:
Căn cứ vào đặc điểm tình hình, điều kiện và hoàn cảnh sinh hoạt của đồng bào vùng sâu vùng xa, để công tác truyền bá Phật pháp có thể đến tận vùng sâu vùng xa của tổ quốc, chúng tôi xin đề xuất một số giải pháp sau đây:
1/ Đối với những vùng sâu vùng xa chưa có ngôi Tam Bảo, thì rất cần sự quan tâm sâu sắc của Giáo Hội nên kịp thời cắt cử những giảng sư có năng lực, tận tâm với sứ mạng hoằng pháp độ sanh đến những nơi này. Để công cuộc hoằng truyền Phật pháp đến tận vùng sâu vùng xa của tổ quốc mang lại hiệu quả thiết thực, thì trước mắt rất cần tinh thần dấn thân tự nguyện vì lợi ích tha nhân của các nhà hoằng pháp trẻ… Thiết nghĩ, việc xếp lịch ưu tiên và tăng cường các buổi thuyết giảng tại những vùng sâu vùng xa là việc cần thực hiện ngay, vì đây là giải pháp tối ưu và khả thi, nếu tất cả chúng ta cùng đồng lòng ra sức truyền bá Phật pháp đến tận vùng sâu vùng xa.
2/ Ngoài việc cắt cử những giảng sư có năng lực, tận tâm với sứ mạng hoằng pháp độ sanh đến những nơi vùng sâu vùng xa thuyết pháp, Giáo hội nên có quy hoạch phân công cụ thể mỗi địa bàn vùng sâu vùng xa từ một đến hai vị Tăng (Ni) đảm nhận công tác hoằng pháp định kỳ hằng tuần hoặc hàng tháng, từ đó tiến đến thành lập cơ sở hạ tầng Phật giáo (Chùa, Niệm Phật Đường), phân bổ những vị Tăng Ni có tâm huyết và năng lực đến đảm nhận trụ trì tiếp tục công tác truyền bá Phật pháp thường xuyên.
3/ Do đặc điểm của vùng sâu vùng xa hiện nay đa phần có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số anh em sinh sống, trình độ dân trí chưa cao và đời sống văn hóa của cộng đồng cư dân còn rất khiêm tốn, đa phần ảnh hưởng mê tín dị đoan và các tập tục hủ lậu, nên rất dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng, do vậy chúng tôi đề nghị Giáo hội cần chủ động vận động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Phật giáo như các Niệm Phật đường hoặc những ngôi Tam Bảo có quy mô phù hợp với từng địa phương. Các Niệm Phật đường tại những nơi này sẽ vừa là ngôi Tam Bảo để Phật tử đến tụng kinh bái sám, vừa là nơi giao lưu văn hóa, cùng một lúc đáp ứng cả hai nhu cầu tín ngưỡng tâm linh và nhu cầu giải trí văn hóa tinh thần.
4/ Văn hóa nghệ thuật là phương tiện chuyển tải thông điệp Phật pháp hữu hiệu nhất, là nhịp cầu thuận lợi giúp cho bà con dễ dàng đến với đạo Phật, nhất là đối với đồng bào vùng sâu vùng xa, khi mà đời sống văn hóa tinh thần còn thiếu thốn. Do vậy Giáo hội cần chú trọng việc tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật có nội dung giáo dục đạo đức và chuyển tải thông điệp Phật pháp. Nên có lịch trình thuyết giảng kết hợp hoạt động giao lưu văn hóa nghệ thuật mang tính chuyên nghiệp và định kỳ. Điều này sẽ tạo cho bà con tâm lý háo hức trông mong chờ đợi các nhà hoằng pháp đến và sẽ tạo nên không khí hưng phấn trong mỗi kỳ đi hoằng pháp và trong mỗi thời thuyết giảng.
5/ Vì mục đích hoằng pháp lợi sanh, Giáo hội nên vận động các vị trụ trì, thay vì thường tổ chức Phật tử hành hương đến những danh lam thắng cảnh, thì hướng Phật tử đến những vùng sâu vùng xa để hỗ trợ vật chất và ủy lạo tinh thần cho bà con còn thiếu thốn. Các vị trụ trì có thể vận động văn nghệ sĩ tham gia biểu diễn văn nghệ tạo tâm lý hứng khởi cho bà con trên tiến trình đến với đạo Phật.
6/ Giáo hội cần có kế hoạch đào tạo nguồn nhân sự phục vụ công tác hoằng pháp tại các vùng sâu vùng xa và đề ra phương án khả thi trong việc truyền bá Phật pháp đến những nơi này. Ban Hoằng pháp cần tập trung bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho các Tăng sĩ đảm trách nhiệm vụ hoằng pháp và phát triển đội ngũ hoằng pháp viên tự nguyện. Theo đó, những Tăng sĩ đảm nhận vai trò hoằng pháp cần được phân công cụ thể đến những vùng sâu vùng xa và phải xem đây là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong sự nghiệp tu hành của bản thân. Đối với những Tăng sĩ thường xuyên hoằng hóa ở những vùng sâu vùng xa, nhất là những địa bàn có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, thì Giáo hội cần có chính sách hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi.
Trong thời đại mới, thời kỳ đất nước mở cửa hội nhập, đất nước phải đối mặt với muôn vàn thách thức, trong vai trò đồng hành cùng dân tộc, góp phần phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy tinh thần yêu nước và ý thức dân tộc trong đời sống cộng đồng, thì những địa bàn vùng sâu vùng xa sẽ rất cần đến dấu chân của các nhà hoằng pháp có trách nhiệm với đạo pháp và dân tộc.
Kính chúc hội thảo thành công viên mãn.
NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TRUYỀN BÁ PHẬT PHÁP
TT. Thích Giác Liêm
Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN
Chánh Văn phòng Ban Nghi lễ TW
Đại lễ Kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam chính là dịp để Giáo hội tổng kết những thành quả đạt được, cũng là dịp để Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài nước đều hoan hỷ trước những Phật sự đã thành tựu của Giáo hội. Một chặng đường gần nữa thế kỷ hình thành và phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam, từ những kinh nghiệm, khó khăn, thuận lợi qua từng giai đoạn lịch sử. Đất nước và Phật giáo Việt Nam có nhiều thăng trầm và chuyển biến; ở đây người viết chỉ khái lược sự hình thành và phát triển của vùng đất Tây Nam bộ để tất cả thành viên Giáo hội có cái nhìn đích thực và có trách nhiệm nhiều hơn nữa, hiến kế cho Giáo hội trong việc định hướng cho nhu cầu tham học Phật pháp của Tăng Ni, Phật tử cũng như những giải pháp truyền bá Phật pháp trong xu thế hội nhập toàn cầu của Đất nước, của Giáo hội ở hiện tại và tương lai.
Khi Phật giáo có mặt tại Việt Nam, một trong những công tác mà các bậc Tiền bối đặc biệt quan tâm, đó là đáp ứng nhu cầu tham học Phật pháp của đồng bào Phật tử và công tác truyền bá Phật pháp. Từ ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam đến nay, nhu cầu tham học Phật pháp của tuyệt đại đa số Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước cơ bản được Giáo hội đáp ứng, công tác truyền bá Phật pháp luôn được Lãnh đạo Giáo hội chú trọng, triển khai một cách đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, nhất là tại các vùng sâu, vùng xa, trong đó có vùng đất mới phương Nam (1).
Trong suốt chiều dài lịch sử khai hoang, lập ấp của các cư dân tại vùng đồng bằng sông Cửu Long trù phú, bộ mặt xinh đẹp đã hoàn tất vào thế kỷ 18 và Phật giáo là một trong những ý thức hệ mà những người dân đi mở đất mang theo. Bởi vì, Phật giáo luôn là người bạn đồng hành với dân tộc trong mọi giai đoạn lịch sử, nhất là trong công cuộc khai hoang, lập ấp này. Phật giáo là người bạn thân thiết nhất của nhân dân “vui cái vui của đồng bào, khổ cái khổ của đồng đạo”. Qua đó, chúng ta thấy Phật giáo đã thể hiện tinh thần nhập thế tích cực, chia sẻ đắng cay ngọt bùi với nhân dân, nhất là an ủi người dân về mặt tinh thần trong mọi lúc mọi nơi.
Tây Nam bộ là vùng đất mới, trù phú, màu mở, nó cũng là nơi hội tụ tinh hoa của nhiều nền văn hóa khác nhau. Từ cơ sở như vậy, Tây Nam bộ đã trở thành nơi hội tụ của nhiều dân tộc, của những con người bất khuất muốn vươn lên để tạo thành lẽ sống mới có sự dung hòa, hiền thiện và từ đó đã hình thành ở Tây Nam bộ một bản sắc độc đáo về cá tính người. Qua đó, cho thấy cư dân ở Tây Nam bộ có tư tưởng rất thoáng, kiến thức mở, ít chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, cộng với xã hội nông nghiệp theo lối cổ truyền đang bị lung lay ở giai đoạn nửa cuối thế kỷ 20. Sự phản ứng của xã hội nông nghiệp cổ truyền, hoặc là cải cách, hoặc là làm một cuộc cách mạng và những tổ chức Phật giáo mang dấu ấn của xã hội nông nghiệp cổ truyền không đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của đồng bào Phật tử trước giai đoạn lịch sử mới. Và Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập năm 1981 là một quy luật tất yếu, đáp ứng nhu cầu và giải pháp truyền bá Phật pháp tại vùng đất này.
Mặc dù giai đoạn đầu Phật giáo đã đóng vai trò chủ đạo ở vùng đất mới này, nhưng đến nữa cuối thế kỷ 19, Phật giáo mất dần ảnh hưởng, sự thể hiện vai trò chủ đạo không cao bởi vì những lý do chủ quan và khách quan. Từ những đặc điểm và bối cảnh chung của đất nước, trước năm 1975, vùng đất Tây Nam bộ còn chịu ảnh hưởng nặng nề của các vấn đề kinh tế khủng hoảng, chính trị rối ren, đạo đức xã hội xuống cấp nghiêm trọng, chiến tranh vệ quốc… Trong khi đó, Chánh quyền Sài Gòn đã dùng một tôn giáo để làm công cụ cho sự cai trị của mình, và thẳng tay đàn áp những tôn giáo có tinh thần yêu nước, vì độc lập của Tổ quốc. Ở giai đoạn này, tại vùng đất Tây Nam bộ, tuy có khó khăn về nhiều phương diện, nhưng Phật giáo vẫn là chỗ dựa tinh thần vững chắc của mọi người, tính nhập thế tích cực của Phật giáo ở giai đoạn này được phát huy mạnh mẽ, nhiều tu sĩ Phật giáo đã hòa mình với nhân dân để lo việc nước việc dân, việc đạo việc đời và an ủi họ trong những lúc khốn khó ngặt nghèo.
Trước những đặc điểm, bối cảnh lịch sử của Tây Nam bộ, cộng với tính trung thực, sốt sắng, lòng yêu nước nồng nàn, tinh thần dân tộc của người dân Tây Nam bộ, từ đó dẫn đến việc xuất hiện nhiều Hệ phái Phật giáo. Sự ra đời của các hệ phái Phật giáo ở Tây Nam bộ đã phản ảnh một phần nhu cầu tín ngưỡng, tu hành của đồng bào Phật tử, góp phần vào việc truyền bá Phật pháp tại vùng đất mới. Khi thành lập, các hệ phái Phật giáo đều vận dụng những giáo lý căn bản của Phật giáo nói chung và Thiền học thời Lý - Trần nói riêng, do đó đã cơ bản đáp ứng nhu cầu tham học Phật pháp và tín ngưỡng của một bộ phận không nhỏ người dân chân lấm tay bùn ở đây, đồng thời có những giải pháp truyền bá Phật pháp vừa giữ được bản sắc văn hóa Phật giáo, vừa đáp ứng việc đổi mới công tác truyền bá Phật pháp trước những nền văn minh vật chất phương Tây tràn vào Việt Nam lúc bấy giờ. Trước những bối cảnh như vậy, nên có nhà nghiên cứu cho đó là động lực thực tế để chấn hưng Phật giáo, khởi đầu từ Tây Nam bộ (2). Và chính công cuộc truyền bá Phật pháp, cộng với tư tưởng nhập thế tích cực của Đạo Phật đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự hình thành một vài tôn giáo địa phương.
Với việc tìm hiểu tiến trình lịch sử dân tộc và vai trò của Phật giáo trong các giai đoạn lịch sử, để chúng ta có cái nhìn bao quát hơn đối với việc hình thành và phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam; và cũng để thấy rằng Phật giáo là một trong những nhân tố cấu thành “văn hóa dân tộc” và nó đã trở thành “mạch sống dân tộc”. Vai trò của Phật giáo là không thể thiếu đối với người dân Việt Nam trong mọi giai đoạn lịch sử, góp phần vào kế hoạch phát triển Phật giáo tại các vùng sâu vùng xa ở Tây Nam bộ nói riêng và Việt Nam nói chung với hiệu quả cao nhất, đó là sự đóng góp một cách to lớn nhưng trong thầm lặng đối với việc bảo tồn và phát huy văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong 30 năm qua.
Phật giáo luôn là nhân tố chính trong việc hộ quốc an dân đối với mọi giai đoạn lịch sử của dân tộc. Cho nên, khi sớm có chỗ đứng vững chắc tại Tây Nam bộ và Phật giáo đã dung hóa tất cả để tạo thành nét đặc thù của mình với những nét mới, phong phú đa dạng về mọi mặt như kiến trúc, điêu khắc, lễ nghi, cởi mở trong giao lưu, nhạy bén với cái mới, thấm nhuần tinh thần bình đẳng, nhân nghĩa, bao dung nhưng rạch ròi, quyết liệt và rất mực giản dị, thiết thực, vượt ra khỏi những ràng buộc và gò bó của khuôn mẫu phong kiến, tạo thành một đặc trưng của Phật giáo Nam bộ, phụng đạo nhưng vẫn làm tròn nghĩa vụ với Tổ quốc.
Lật từng trang sử đã cho chúng ta một bức tranh toàn cảnh về vùng đất Tây Nam bộ và công tác hoằng pháp ở đây qua những giai đoạn lịch sử trước năm 1975. Do điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, những người cư dân ở vùng đất mới phương Nam dồn hết công sức vào lao động sản xuất để kiếm kế sinh nhai, họ chỉ chú trọng đến việc khai hoang để dứt trừ sự đói nghèo mà nguyên nhân theo họ là không có ruộng đất để cày cấy, họ không được học hành và cũng không có điều kiện để học hành. Nhà nước Phong kiến bấy giờ cũng không quan tâm đến vấn đề này, họ chỉ lo động viên những người nông dân lo khai hoang, trồng trọt, còn họ thì lo thu thuế, vơ vét của dân thì nhiều, lo cho dân thì ít.
Trong giai đoạn trước và sau thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, Nhà nước Phong kiến suy tàn, Nho sĩ thì không còn giữ nổi địa vị độc tôn, sùng thượng như trước kia nữa, tài an bang tế thế của các nhà Nho không cứu nổi một chế độ phong kiến suy tàn, họ cũng trở thành tầm thường như bao người khác. Việc trị nước an dân bằng tư tưởng Nho giáo đã lỗi thời, tài thao lược của các nhà Nho cũng không thay đổi được tình hình xã hội lúc bấy giờ, thậm chí có nhiều Nho sĩ khi ra làm quan đã trở thành những tham quan, nhiễu loạn dân tình, vì vậy niềm tin vào hệ tư tưởng của Nho giáo không còn mãnh liệt như trước. Riêng Tây Nam bộ là vùng đất mới, xa xôi, vai trò của Nho giáo càng trở nên mờ nhạt, không tạo được ảnh hưởng nhiều đến những cư dân ở đây, ý thức hệ phong kiến cũng không vực dậy được sự suy tàn của triều đình nhà Nguyễn trong giai đoạn này. Trước tình hình ngày một phát triển của xã hội, ý thức hệ Nho giáo không đáp ứng được sự đổi thay của xã hội và vấn đề này được tăng lên khi những biến động lịch sử dữ dội liên tiếp xảy ra ở thế kỷ 19 làm tác động đến sự tồn vong của chế độ phong kiến nhà Nguyễn.
Cũng như Nho giáo, Lão giáo vào nước ta theo gót chân của xâm lược phong kiến phương Bắc. Nho giáo bám rễ vào xã hội bằng con đường học vấn, còn Lão giáo (sau này đã biến dạng thành Đạo giáo có tính phù thủy) bám rễ vào xã hội bằng con đường nhân gian, có nghĩa là chỉ chú trọng đến việc luyện phù chú, trị bịnh bằng bùa ngãi, đánh ma đuổi tà, trấn yểm... Đạo giáo cũng có mặt trong hành trang của những lưu dân đi mở đất. Đối với một vùng đất xa lạ, bí hiểm, dẫy đầy lam sơn chướng khí, bịnh tật thì Đạo giáo có điều kiện phát triển, trở thành tín ngưỡng dân gian, đáp ứng được một phần nào nhu cầu về đời sống tinh thần của những cư dân vùng đất mới phương Nam. Vùng đất mà những điều kiện về thiên nhiên và xã hội hết sức khắc nghiệt, Đạo giáo có điều kiện xâm nhập, phát triển tại Tây Nam bộ, nhưng nó không phải là tư tưởng chủ đạo chi phối đến mọi mặt đời sống văn hóa, tinh thần của người dân Tây Nam bộ.
Trong khi đó, một tôn giáo mới được du nhập vào Việt Nam vào nữa cuối thế thế kỷ 17, nhưng theo phía sau đó là sự lăm le xâm lược Việt Nam của thực dân phương Tây. Từ đó, tạo sự quan ngại của triều đình phong kiến, dù các cư dân ở Tây Nam bộ có tinh thần rất thoáng, cởi mở nhưng rất ít người dân ở đây theo đạo mới này, vì giáo lý của đạo mới rất xa lạ với phong tục, tập quán cổ truyền của dân tộc Việt Nam. Sang thế kỷ 19, sự truyền bá đạo mới khá rầm rộ mà sau lưng nó đã xuất hiện họa ngoại xâm, đe dọa nền độc lập dân tộc, vì vậy việc chọn lựa, hoặc tiếp nhận một tôn giáo dường như gắn liền với tiêu chí dựng nước và giữ nước, những gì không giúp ích cho sự nghiệp hộ quốc an dân thì nhân dân cẩn thận trong việc tiếp nhận.
Đối với Phật giáo, sau thời hoàng kim (thời Lý - Trần) đến thế kỷ 15 bắt đầu suy thoái về mặt hệ thống tổ chức cho đến giữa thế kỷ 20. Dưới thời nhà Nguyễn, tuy có lập rất nhiều chùa, nhưng họ vẫn bài xích Phật giáo, như Đức Phật dạy: “có duyên Phật độ, không duyên Phật chẳng độ “ (một trong tam năng, tam bất năng), nhưng triều đình nhà Nguyễn đã sửa lại mang tính bài bác Phật giáo: “thờ cha mẹ chẳng ra gì, ăn chay niệm Phật cũng vô ích. Trung với vua đến thế dẫu không cúng Phật cũng không sao” (3).
Giáo lý Đạo Phật rất cao siêu và thâm thúy, nhưng trong bối cảnh suy thoái, thiếu một tổ chức Giáo hội duy nhất để lãnh đạo và điều hành, bấy giờ tuy có các bậc chơn tu nhưng không nhiều, lớp trí thức Tăng Ni trẻ không nhiều và một bộ phận Tăng Ni trẻ không được đào tạo chính quy, từ đó tạo nên sự mất cân đối trong hàng ngũ Phật giáo, dẫn đến những chuyện không hay trong nội bộ Phật giáo. Vì thiếu một tổ chức Giáo hội, thiếu đội ngũ trí thức trẻ, nên Phật giáo chỉ co cụm lại tại các vùng dân cư ổn định và đô thị, không tỏa rộng đến các vùng xa vùng sâu, cho nên Phật giáo không còn là người bạn đồng hành với nhân dân như buổi đầu đi mở đất.
Phật giáo Tây Nam bộ ở giai đoạn này cũng có những bậc cao Tăng thường xuyên hoằng pháp đến các vùng sâu vùng xa, nhưng không đạt được kết quả khả quan. Ngoài những nguyên nhân khách quan vừa nêu, còn có một nguyên nhân không kém phần quan trọng, đó là các nhà hoằng pháp bấy giờ không dùng ngôn ngữ bình dân để thuyết giảng mà dùng toàn ngôn ngữ bác học của nhà Phật, dùng quá nhiều từ Hán Việt, kinh kệ cũng toàn bằng âm Hán Việt mà người nông dân thì không có học hành, nên họ không thể tiếp thu một cách đầy đủ hệ tư tưởng nhập thế tích cực của Phật giáo. Theo dòng thời gian, dần dần Phật giáo như là một tôn giáo tín ngưỡng thuần tuý không phát huy được sức mạnh của mình là “Phụng đạo yêu nước - Hộ quốc an dân - Hoằng dương Chánh pháp”. Cộng với những điều kiện và bối cảnh của đất nước, cuộc sống đầy khổ ải, ý thức hệ Phật giáo mà các cư dân mang theo trong một chừng mực nào đó không còn đủ sức thuyết phục được những người dân cùng khổ, ít có điều kiện thâm nhập vào đời sống tinh thần của tuyệt đại đa số của cư dân Tây Nam bộ và phát huy tốt tinh thần nhập thế tích cực để hộ quốc an dân trong giai đoạn này.
Nhìn chung, Phật giáo Nam bộ ở những giai đoạn trước năm 1975 có những hạn chế nhất định, nhưng các bậc cao Tăng bấy giờ đã nỗ lực xây dựng và đạt được những thành quả nhất định, đó là vừa phát huy Phật pháp, vừa thực hiện chức năng gởi gắm chủ trương đấu tranh cho sự độc lập của đất nước đến với mọi người dân, điểm đến cuối cùng là góp phần công sức vào việc xây dựng Nhà nước Việt Nam kiểu mới – Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bên cạnh đó, Phật giáo Tây Nam bộ đã tích cực bảo vệ nền văn hóa, phong tục, tập quán lâu đời của dân tộc và cảnh báo một sự xâm lược văn hóa của phương Tây. Nói cách khác, người dân Tây Nam bộ không bài ngoại, nhưng dứt khoát không để cho bất kỳ ai xúc phạm đến nền văn hóa của đất nước mình.
Qua những diễn biến lịch sử, có thể thấy một thời gian dài không có một tôn giáo nào có ảnh hưởng tuyệt đối với các cư dân ở đây, dù Phật giáo cố gắng phát huy vai trò chủ đạo của mình nhưng hiệu quả không cao. Trái lại, Tây Nam bộ là vùng đất mới, nhiều hệ tư tưởng, tôn giáo khác nhau cùng tác động đến đời sống tinh thần của người dân. Vì vậy, ngay từ buổi đầu đi mở đất, Phật giáo đã thể hiện tinh thần nhập thế tích cực, tinh thần yêu nước nồng nàn nên được nhân dân đón nhận một cách trân trọng. Từ đó, Phật giáo Tây Nam bộ là một trong những nhân tố đã tạo nên sức mạnh đoàn kết dân tộc, làm phong phú văn hóa Việt Nam tại phương Nam, đã làm nên những kỳ tích lịch sử qua hai cuộc vệ quốc vĩ đại, trong đó đã cơ bản đáp ứng phần nào về nhu cầu tham học Phật pháp của Tăng Ni, Phật tử ở đây và đề ra những giải pháp tối ưu cho công tác truyền bá Phật pháp.
Điểm lại một số sự kiện lịch sử tại vùng đất Tây Nam bộ, để khẳng định rằng những nhu cầu tham học Phật pháp của Tăng Ni, Phật tử Việt Nam đã được Giáo hội Phật giáo Việt Nam đáp ứng đầy đủ, những giải pháp truyền bá Phật pháp mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đề ra đã đi đúng hướng. Bên cạnh những thành công trong 30 năm qua của Giáo hội, vẫn còn đó một vài hạn chế, Giáo hội cần có những giải pháp quyết liệt, đồng bộ hơn nữa để công tác truyền bá Phật pháp phát huy được giá trị “Phật pháp bất ly thế gian giác”, tìm ra những nguyên nhân sâu xa của lịch sử để có hướng khắc phục một vài hạn chế hiện nay trong công tác hoằng pháp của Giáo hội để làm cho Phật pháp lan rộng đến mọi vùng miền của Tổ quốc để cho mọi người hiểu thâm sâu Phật pháp hơn.
Sau khi đất nước hoàn toàn độc lập, tự chủ, với chính sách tôn giáo nhất quán của Đảng và Nhà nước, các tôn giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, nhất là khi Phật giáo cả nước thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Từ đó đến nay, Giáo hội luôn xem Tăng Ni và Phật tử là đối tượng chính để giải quyết những nhu cầu tham học Phật pháp, chịu đựng khó khăn để thể hiện lòng từ (hoài nhẫn hành từ), Đảng và Nhà nước cũng lấy nhân dân làm đối tượng để chăm lo từ đời sống vật chất đến tinh thần, dùng lòng nhân để trị quốc (trị quốc dĩ nhân). Trong quá khứ, những người đệ tử Phật với lòng nhiệt huyết tích cực tham gia vào quá trình đấu tranh giành độc lập cho tổ quốc, biến văn hóa dân tộc, kết hợp chặt chẽ với văn hóa Phật giáo để trở thành một thành trì kiên cố trong sự nghiệp dựng nước, giữ nước và hôm nay nó được phát huy trong công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh. Tư tưởng này tạo thành giá trị tinh thần vô giá về đạo làm người của Tăng Ni, Phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam “Ở nhà có thể dùng để thờ cha mẹ, giúp nước ta có thể trị dân, ở riêng một mình có thể dùng để tu thân” (4). Như vậy đạo đức của đệ tử Phật, nói theo quan điểm của Mâu Tử trong Lý Hoặc Luận thì nó có thể để tu thân, tề gia, trị quốc.
30 năm đã trôi qua, từ những bài học kinh nghiệm của Phật giáo ở Tây Nam bộ trước đây, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có chỉ đạo sâu sát hơn trong việc đưa ra các giải pháp về nhu cầu tu học của Tăng Ni, Phật tử, nhất là công tác truyền bá Phật pháp được nghiên cứu khá kỷ, có những giải pháp thiết thực đã mang lại nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, công tác truyền bá Phật pháp hiện nay vẫn chưa thoát khỏi một vài hạn chế mà Phật giáo ở Tây Nam bộ trước đây gặp phải.
- Thứ nhất, trước đây các nhà truyền giáo Phật giáo có nhiều đợt hoằng pháp đến những vùng nông thôn hẻo lánh, nhưng chưa đủ nguồn nhân lực để bám trụ lại và tiếp tục đem ánh sáng Phật pháp đến người nông dân ít có điều kiện nghe. Từ đó, công tác truyền bá Phật pháp bộc lộ nhiều hạn chế, người dân tin Phật nhưng thiếu người hướng dẫn nên họ chuyển sang tin và theo tôn giáo khác.
Công tác truyền bá Phật pháp của Giáo hội trong 30 năm qua được đẩy mạnh và đều khắp từ thành thị đến nông thôn, nguồn nhân lực dồi dào, đội ngũ giảng sư vừa hùng hậu và giỏi chuyên môn, sau những đợt hoằng pháp khá rầm rộ nhưng có quá ít Tăng Ni chịu bám trụ lại các vùng sâu vùng xa, vùng nông thôn hẻo lánh, nên Phật giáo tại các nơi nầy chưa phát triển, thậm chí là không phát triển như các tôn giáo khác, người dân tin và theo tôn giáo khác là một hệ quả tất yếu. Lịch sử đã để lại bài học kinh nghiệm, nhưng hiện nay Giáo hội chưa có giải pháp khả thi để giải quyết hạn chế này.
- Thứ hai, Việt Nam là một nước nhiều dân tộc, nhiều nền văn hóa khác, tại mỗi vùng miền trình độ dân trí lại khác nhau. Giáo hội Phật giáo Việt Nam có đội ngũ giảng sư khá hùng hậu, am tường Phật pháp, chuyên môn giỏi, chuyên sâu cao, nhưng khi đến các vùng miền chưa áp dụng triệt để nguyên lý “Thời - Xứ - Vị” để phục vụ công tác truyền bá Phật pháp, ngôn ngữ thuyết pháp quá bác học, quá chuyên sâu. Do đó, những bài pháp thật hay nhưng trở thành xa lạ và khó hiểu đối với người dân tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới và nông thôn, nhất là tại vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, người dân ở đây không hiểu tiếng Kinh nhiều, từ đó họ khó tin và theo Phật giáo. Trong khi đó, tôn giáo khác khi họ đến những vùng này, họ truyền giáo bằng chính ngôn ngữ của dân bản địa, họ bám trụ lại địa phương, tiếp cận quần chúng bằng phương pháp từng nhóm nhỏ, nên họ dễ dàng thâm nhập vào đời sống của quần chúng địa phương.
- Thứ ba, một số Tăng Ni bám trụ tại một số vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn chưa hòa mình vào đời sống của cư dân ở đây như các bậc Tiền bối đã làm khi thuyết Pháp, hoặc giảng Kinh. Trong khi đó, theo kinh nghiệm của các bậc Tiền bối, ở những nơi này, giai đoạn đầu các bậc Tiền bối thường áp dụng Kinh Thí dụ để hướng dẫn cho những người sơ cơ tin và theo Phật giáo. Bởi vì, Kinh Thí dụ thực chất là những truyện ngụ ngôn, mục đích của những câu chuyện trong Kinh Thí dụ là nhắn gởi một lời khuyên, một cảnh giác thông qua câu truyện. Chúng ta thấy nội dung thông điệp của Kinh Thí dụ đôi khi không mang dấu ấn Phật pháp, mà nó thể hiện sự khôn ngoan chung, một dạng minh triết mà bất cứ dân tộc nào cũng có thể có. Cuối cùng những mẫu truyện mang tính ngụ ngôn trong Kinh Thí dụ, có những truyện xuất phát từ đời sống Phật giáo, cũng có những truyện phi Phật giáo được viết thành những mẫu truyện để gởi gấm một tư tưởng, một nhận định thực tiễn có giá trị khuyên răn, cảnh giác v.v…
Những mẫu chuyện trong Kinh Thí dụ, nó tuy đơn giản nhưng vẫn vượt trội ở tính đa dạng không chỉ về mặt giáo lý, mà còn về mặt tư tưởng chung, dân tộc nào cùng có, trình độ nào cũng hiểu được, giới tính nào cũng cảm nhận được. Thí dụ như truyện con cò đem con rùa đi kiếm ăn. Rùa không giữ được miệng mình nên rơi mất xác. Ý nghĩa của truyện không còn đơn thuần giới hạn trong giáo lý Phật giáo, mà nó có sức lan tỏa mang tính xã hội phổ quát.
Như thế, Tăng Ni khi bám trụ lại ở những vùng vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn phải đều đã lập nguyện: “chịu đựng gian khổ để thể hiện lòng thương”, “Ta thà bỏ thân mạng sống một đời chứ không bỏ chí lớn, quên mình để yên ổn quần sinh, đó là lòng nhân bao trùm trời đất vậy” (5). Do trình độ dân trí ở đây, nên việc khuyên giữ 5 giới, vâng đội mười điều lành, tức là: “Lấy 5 giáo làm trị chính, không hại nhân dân: một là nhân từ không giết, ơn tới quần sinh; hai là thanh nhường không trộm, quên mình cứu người; ba là tinh khiết không dâm, không phạm các dục; bốn là thành tín không dối, lời không hoa sức; năm là giữ hiếu không say, nết không dơ dáy” (6) là nhấn mạnh đến các điều răn của Phật giáo. Dùng truyện đầu trong Kinh Thí dụ là những lời giáo huấn đặc biệt, thông qua việc giữ giới để thắng được các quỹ dữ. Việc dùng thí dụ để đề cao vai trò và giá trị của giới luật, dùng nó để chuyển tải thông điệp về giáo lý giải thoát, đem lại an lạc, hạnh phúc cho mình và mọi người. Vấn đề ở đây, người truyền bá Phật pháp phải hướng người tín đồ hiểu rằng quan hệ xã hội bình thường phải dựa trên một số nguyên tắc. Các nguyên tắc này, Phật giáo gọi là giới, mang dạng pháp quy bắt buộc, nhưng lại mang tính tự nguyện, giữ được giới nào đem đến an lạc, hạnh phúc của giới đó thông qua cuộc sống. Nếu hướng dẫn như thế, sẽ làm những cư dân chân lấm tay bùn dễ tiếp nhận qua những mẫu truyện của kinh.
Tóm lại, những trình bày của chúng tôi chỉ mang tính chia sẻ, chưa phải là giải pháp tổng thể. Tuy nhiên, nó sẽ góp phần cung cấp thông tin theo cảm nhận của cá nhân để lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam đưa những quyết sách tối ưu trong việc giải quyết những nhu cầu tham học Phật pháp của đồng bào Phật tử tại các vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn và những giải pháp khả thi trước sự truyền đạo của nhiều tôn giáo tại Việt Nam. Như Cổ đức nói:"Đạo là cứu độ từ bi, nước nghèo dân chết bỏ đi nỡ nào".
Một khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam giải được bài toán “NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TRUYỀN BÁ PHẬT PHÁP”, với cái nhìn thoáng, bao quát, bao dung, thông cảm, không đối kháng với bất cứ ai mà luôn chủ trương sống hòa bình, Phật giáo sẽ tiếp tục viết nên trang sử vàng son mới trong thời hội nhập, góp phần xây dựng đất nước ngày càng phát triển.
Càng hội nhập sâu rộng với thế giới, chúng ta phải xác định hệ tư tưởng Phật giáo với tất cả những gì tinh hoa nhất, tích cực nhất, phù hợp nhất với hoàn cảnh lịch sử, địa lý của Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử, biến nó thành chất men hội tụ và làm chất xúc tác, làm cho cả dân tộc Việt Nam triệu người như một chung sức chung lòng xây dựng và bảo vệ tổ quốc; làm cho mỗi người dân Việt Nam trên những cương vị khác nhau, luôn phát huy cao độ trí huệ và dũng khí của chính mình để lo cho dân cho nước.
Sự hình thành và phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một kiện lịch sử chưa từng có trong lịch sử trung, cận và hiện đại của Phật giáo Việt Nam. Với những ưu việt, tích cực và một ít hạn chế trong 30 năm qua, về mặt khách quan Giáo hội cần phải đổi mới về việc đáp ứng nhu cầu và đề ra giải pháp trong công tác truyền bá Phật pháp. Nếu Tăng Ni đến các vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn tự thỏa mãn với những gì đã đạt được trong quá khứ thì sẽ tự đánh mất mình, không còn là nhân tố chính trong việc hộ quốc an dân trước mọi giai đoạn lịch sử, nhất là không đem được ánh sáng văn hóa dân tộc, văn hóa Phật giáo để chống lại sự đồng hóa của nền văn minh vật chất phương Tây đang tràn vào Việt Nam. Ảnh hưởng của Phật giáo mãi mãi vẫn còn tác động tích cực đến xã hội Việt Nam, nhưng Phật giáo cần phải không ngừng đổi mới, thực hiện tốt khái niệm “Phật giáo mạch sống của dân tộc”, có vậy mới chứng minh được Phật giáo là Tôn giáo của dân tộc, là nhân tố cấu thành văn hóa dân tộc, là chất xúc tác góp phần quy tụ toàn dân về một mối để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.
Chú thích:
(1) Theo Báo cáo tổng kết 30 năm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
(2) Sơn Nam, Cá tính của miền Nam, NXB Văn hóa, năm 1992, trang 41.
(3) Đinh Văn Hạnh - Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa của người Việt ở Nam bộ Việt Nam - Viện Khoa học Xã hội Tp. Hồ Chí Minh, 1996, trang 29.
(4) Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam tập 1, NXB Tp. Hồ Chí Minh 2003, trang 111
(5) Sđd, trang 96, 98
(6) Sđd, trang 97
NHỮNG NHU CẦU và GIẢI PHÁP
TRUYỀN BÁ PHẬT PHÁP Ở VÙNG SÂU VÙNG XA
Đại đức Thích Đức Hoàng
Trưởng Ban HDPT Long An
Vùng sâu vùng xa, vùng biên giới hải đảo, ngoại thành và khu vực kinh tế mới có đặc điểm chung là nghèo về kinh tế, văn hóa chậm phát triển, trình độ dân trí thấp, phương tiện lạc hậu, công cụ lao động kiếm sống thô sơ, khoa học kỹ thuật còn yếu kém, đời sống người dân còn kham khổ, đường giao thông khó khăn, tàu xe ít….
- A. Nhu cầu
- 1. Nhu cầu về đời sống tâm linh
Đời sống con người được cân bằng là nhờ vào vật chất và tinh thần, thiếu vật chất con người sẽ khổ, thiếu tinh thần con người sẽ khổ hơn và có thể không còn muốn sống nữa. Về đời sống tâm linh, tinh thần tuy không thấy, không sờ nắm được như vật chất, nhưng nó rất quan trọng, tâm linh chi phối và ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống mỗi con người từng phút tùng giây và theo ta cho đến chết. Đây thuộc về không gian tâm linh sâu kín khó nắm bắt được nhưng nhu cầu thì có thật, khó lòng mà quản lý được, vì thế Phật giáo giúp họ có định hướng tâm linh đúng. Suy tư thiện và làm việc thiện, tránh các điều bất thiện chi phối. Nhu cầu tâm linh vùng sâu vùng xa thật sự rất lớn, vì thiếu nơi chánh đạo nên họ tìm đến tín ngưỡng dân gian để nương tựa, cầu nguyện để được che chở và ban phước,…
Ở vùng sâu vùng xa cũng có Phật tử, họ luôn mong mõi và mơ ước:
- Có một ngôi chùa Phật để mọi người có nơi cầu nguyện, thực hành các nghi lễ Phật giáo, được tụng kinh, học thiền, tu tập công đức phước lành, học tập giáo lý, thực hành Bát quan trai giới,…
- Có vị thầy hướng dẫn là một hạnh phúc lớn cho phật tử vùng sâu. Thầy rất quan trọng đối với họ. Họ kính thầy như thánh, như Phật. Thầy là người hiểu biết, có lòng từ, có kinh nghiệm tu học là ước mơ từ bao đời.
- Như một khao khát hằng ngày từ tận đáy lòng của họ, giống như nắng hạn mong được mưa rào vậy. Ví như người nghèo mong được của báu, như bệnh mong được thuốc hay, như mù tối mong được ánh sáng,…
Tâm tình của phật tử vùng sâu vùng xa rất chân thành, sâu đậm, thiết tha, cần cầu, mong được thỏa mãn nhu cầu cơ bản này.
- 2. Nhu cầu về vật chất.
- Tàu xe là phương tiện đi lại ở vùng sâu vùng khó khăn.
- Đường sá không được liên mạch, bị ngăn cách bởi sông suối.
- Ăn uống kham khổ, điện nước không đủ.
- Phương tiện chữa bệnh, thuốc men thiếu thốn. Đây là đầu mối tạo ra những mê tín dị đoan.
- Người vùng sâu thường hay dựa vào các thế lực, sức mạnh thần thánh, ông tà, cây me, cục đá,… làm nơi cầu cúng để xin được phù hộ mùa màng, vật chất, của cải, phước lộc,…
Vì thế nên các ông đồng bà cốt, thầy mo lợi dụng điểm yếu này làm cho bà con vùng sâu thêm nhiều mối lo sợ về bệnh tà, bệnh tâm thần, bệnh ông lên bà xuống,… rất nhiều điều phát sinh ở vùng thiếu dân trí.
B. Giải pháp.
- 1. Giải pháp tình thế tạm thời
- Khuyến khích Phật tử và các nhà hảo tâm in ấn tặng kinh sách về vùng sâu vùng xa.
- Tủ sách khuyến tu: Tập trung các băng đĩa, chuỗi và sách giảng dạy thực hành Phật pháp.
- Khuyến khích Phật tử về qui y và sinh hoạt tu học ở các đạo tràng vùng gần nơi mình ở nhất.
- Thành lập đoàn giảng sư chuyên thuyết giảng vùng sâu vùng xa, thành lập đạo tràng và tổ chức lễ quy y, tặng quà và thi giáo lý cho các phật tử vùng này….
- 2. Giải pháp lâu dài
- Trung ương Giáo hội nên chủ trương và đạo đạt với nhà nước khôi phục lại chùa cũ và xây chùa mới ở những vùng có phật tử mà chưa có chùa.
- Ban tôn giáo chính phủ và tỉnh, huyện lưu tâm đến chính sách của Đảng và nhà nước về Phật giáo.
- Vận động các Phật tử địa phương cúng đất xây chùa.
- Giáo hội có kế hoạch và chính sách đặc biệt dành cho Tăng Ni tốt nghiệp Phật học về vùng sâu vùng xa phục vụ Phật pháp.
- Thành lập quỹ học bổng toàn phần cho Tăng Ni vùng sâu vùng xa khi đi học trong nước và ngoài nước.
- Tập huấn trụ trì cho các Tăng Ni trước khi về vùng sâu vùng xa phục vụ như kỹ năng hoằng pháp, kiến thức chính trị và chính sách của nhà nước đối với Phật giáo, cũng như những hiểu biết cơ bản về hệ thống thủ tục hành chánh giữa Giáo hội và các cơ quan ban ngành.
- Giáo hội nên có chính sách ưu tiên tấn phong giáo phẩm cho Tăng Ni phát tâm về vùng sâu vùng xa phục vụ. (tấn phong theo công đức, tâm nguyện, và thành quả đạt được chứ không theo niên hạn).
- Khi bổ nhiệm trụ trì có thể bỏ bớt các thủ tục hành chánh.
- Thành lập quỹ hỗ trợ vùng sâu vùng xa cho Tăng Ni phát tâm về phục vụ, cũng như những tự viện đã có trụ trì nhưng thiếu về điều kiện vật chất và khoa học kỹ thuật phục vụ công việc hoằng pháp và sinh hoạt Giáo hội.
- Tăng Ni, Phật tử vùng sâu vùng xa có nhiều khó khăn, nên Giáo hội cần có kế sách khích lệ bồi dưỡng và đào tạo nguồn nhân lực cho vùng này.
- Tặng danh hiệu Phú-lâu-Na Bồ tát cho Tăng Ni hoạt động thành công tại vùng sâu vùng xa.
- Vào cuối năm hay tổng kết nhiệm kỳ, tổng kết công tác Phật sự vùng sâu vùng xa nên tổ chức lễ Truy phong danh hiệu và tuyên dương công đức cho những người đã hết mình vì đạo pháp, vì dân tộc, vì vùng sâu vùng xa quên mình.
- C. Tóm lại.
Việc chú trọng phát triển vùng sâu vùng xa là bổn phận và trách nhiệm của các cấp lãnh đạo. Một nước phát triển và văn minh không thể chấp nhận được khi vùng sâu vùng xa còn nghèo đói và thiếu thốn, nhất là về mặt tinh thần và tâm linh. Hy vọng các năm tiếp theo, vùng sâu vùng xa được nhiều sự quan tâm và chiếu cố, vùng khó khăn không còn khó khăn tương lai sẽ ngang bằng với các vùng khác./.
NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TRUYỀN BÁ PHẬT PHÁP
ĐẾN VÙNG SÂU, VÙNG XA
Đại đức Thích Thanh Phúc
Phó TB. Thường trực Ban ĐDPG tỉnh Tuyên Quang
Trong đời sống của người dân Việt Nam, Đạo Phật vốn đã có ảnh hưởng rất lớn. Giáo lý Đạo Phật phù hợp với tâm thế con người Việt Nam, ảnh hưởng sâu sắc tới đạo đức, lối sống của người dân Việt, nhất là đối với người nông dân thuần phác.
Bởi vậy gieo hạt giống Phật pháp đến với vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa là chúng ta đến với nhân dân các dân tộc thiểu số trên bước đường “Hoằng dương chính pháp”.
* Thuận lợi:
- Đời sống văn hóa, tinh thần của người dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa còn nghèo khó nên họ “đói” những món ăn tinh thần. Nếu tổ chức được những sinh hoạt, lễ hội ở Chùa chiền, đình làng thì rất dễ quy tụ người dân đến tham gia.
- Người dân nông thôn, vùng sâu, vùng xa hiền lành, thuần phác, tâm hồn thuần khiết, Tăng Ni dạy sao họ tiếp thu trọn vẹn, không cần dạy nhiều, chỉ cần nhấn mạnh trọng tâm cuộc sống là đủ giúp họ có cái nhìn đúng đắn với Đạo pháp.
- Người dân nông thôn vốn sẵn đức tin mạnh mẽ, thuần khiết, dễ thuyết phục, đó là một thuận lợi cho việc hoằng Pháp tại nông thôn và vùng sâu, vùng xa.
- Đội ngũ tri thức nông thôn, vùng sâu, vùng xa (công chức, giáo viên, công nhân trẻ có trình độ…) vừa mang tính chất nông thôn hồn hậu vừa mang tính tiến bộ của thời đại, hoằng pháp cho họ chúng ta sẽ có được sự hỗ trợ của họ sau này.
* Tồn tại:
- Hoằng Pháp ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa có những khó khăn nhất định:
+ Trình độ dân trí thấp ảnh hưởng đến sự tiếp thu giáo lý nhà Phật.
+ Sắc thái tín ngưỡng ăn sâu vào tiềm thức con người cho rằng đến Chùa lễ Phật, cầu xin, cúng bái, làm công quả…. Nếu đem giới thiệu những bộ kinh, đại giáo lý nhà Phật đồ sộ, những thuật ngữ cao siêu sẽ khiến họ cảm thấy mình quá thấp kém, tầm thường không tiếp cận được, họ sẽ né tránh và dần từ bỏ.
+ Bản thân nhiều nhà chức trách, cán bộ địa phương chưa hiểu về đạo Phật, chưa từng đọc qua giáo lý nhà Phật nên chưa hiểu được nội dung sâu sắc tốt đẹp của Đạo Phật.
+ Những buổi thuyết Pháp hiếm hoi mang tính chất giới thiệu, ra mắt nhiều hơn là thuyết giảng.
+ Đại đa số ở nông thôn, vùng sâu-xa Chùa nghèo, Phật tử nghèo; điều kiện vật chất thiếu thốn, những định kiến, hủ tục lạc hậu khó thay đổi.
* Giải pháp:
Nằm trong số các tỉnh miền núi, điều kiện đi lại chưa thực sự thuận lợi. Tuyên Quang, Hà Giang bên cạnh những ưu điển như bản sắc văn hóa đa dân tộc, con người đôn hậu bao dung, niềm tin sâu sắc với Đảng, Nhà nước và ánh sáng từ bi của Đạo Phật là những hạn chế như những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa khác của đất nước như (lạc hậu, hủ tục lâu đời do đặc trưng của mỗi dân tộc…), Tuyên Quang, Hà Giang còn nghèo về cơ sở vật chất. Hầu hết các ngôi Chùa đều đã được xây dựng lâu đời do những người dân phát tâm cúng dường bằng vật liệu sẵn có nên chưa đảm bảo tính trang nghiêm của nơi thờ tự, chứ chưa dám bàn luận đến Chùa là nơi tu tập của giới Tăng Ni hoặc là nơi hoằng pháp tới các Phật tử và người dân một cách có bài bản khoa học.
+ Người dân và Phật tử luôn ước mong ở chư vị Tăng Ni một tấm lòng từ bi rộng khắp. Bên cạnh việc truyền bá Đạo Phật là sự gần gũi chân thành đức độ để xóa đi ranh giới giàu- nghèo, sang- hèn, những mặc cảm về sự khiếm khuyết, không đầy đủ của chúng sinh.
+ Tham gia tích cực công tác từ thiện tại địa phương.
+ Lập thời khóa biểu duy trì thời khóa đều đặn hơn.
+ Lập đội ngũ Phật tử nòng cốt, phân công việc hợp lý.
+ Tổ chức thuyết Pháp và giảng dạy phải có tính khoa học, bài bản. Tác phong đĩnh đạc, trang phục gọn gàng, hình tướng trang nghiêm mà hoan hỷ, giọng nói khoan thai, chắc chậm không rề rà…. Bên cạnh đó biết kêu gợi người Phật tử tham gia giao lưu cung cấp thông tin sống động hoặc nói nên những tâm tư mong muốn đối với giới Tăng Ni.
+ Kêu gọi lòng hảo tâm của những người con Phật, những mạnh thường quân ủng hộ tài lực, vật lực trong công cuộc tôn tạo, trùng tu Tam bảo.
+ Sự hỗ trợ của Chư tôn đức trong Giáo hội theo tinh thần “Lá lành đùm lá rách”.
+ Tự thân vận động cùng đại chúng trong Chùa tăng gia sản xuất.
* Đề xuất:
+ Giáo hội, Ban Trị sự cần quan tâm đối với công tác hoằng Pháp tại vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa.
+ Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi, có những ưu đãi cho các Tăng Ni làm Phật sự ở đó.
+ Các cấp, chính quyền địa phương cần quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động Phật giáo.
+ Hàng ngũ Tăng Ni trẻ cần gạt bỏ lợi ích cá nhân, vì lợi ích chúng sinh và sự hưng long của Phật pháp hơn 2500 năm mà đem lòng từ bi, năng lực, kiến thức cống hiến.
Đạo Phật là tôn giáo đáp ứng nhu cầu tâm linh lành mạnh cho dân tộc xưa và nay. Chùa là nơi người dân nuôi dưỡng tinh thần qua lời kinh câu kệ. Chánh Pháp được cửu trụ Ta bà là nhờ tinh thần truyền bá Phật pháp chẳng quản gian lao, khó nhọc của chư Tăng Ni qua nhiều thế hệ. Tinh thần ấy được truyền tiếp trong huyết quản của những vị sứ giả Như Lai./.
NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TRUYỀN BÁ PHẬT PHÁP
ĐẾN TẬN VÙNG SÂU VÙNG XA CỦA TỔ QUỐC
Ni sư Thích nữ Nhàn Liên
Ủy viên Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Đaklak
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Kính bạch Chư Tôn Đức, Tăng Ni !
Kính Thưa Quý Đại biểu !
Thay mặt Ban Hoằng Pháp tỉnh Đaklak, chúng con xin gửi đến chư tôn đức Giáo Phẩm Lãnh đạo Trung ương Giáo hội, các Tỉnh Thành hội Phật giáo, quý vị đại biểu lời chào cung kính và hoan hỷ nhất.
Kính bạch Chư Tôn Đức, Kính thưa Quý Đại biểu,
Đạo phật gắn liền với dân tộc gần 20 thế kỷ, đã góp phần lớn trong việc xây dựng đất nước, bảo vệ quê hương, tuy nhiên Phật giáo cũng có lúc thăng trầm biến đổi theo sự biến chuyển của đất nước. Có thể nói sự tồn vinh của Đạo Phật góp phần không nhỏ vào sự tồn vinh của đất nước.
Trong suốt 30 năm qua Giáo hội Phật giáo Việt Nam với đường hướng hoạt động “ĐẠO PHÁP - DÂN TỘC - CHỦ NGHĨA XÃ HỘI” là chủ trương Đạo Đời hòa hợp, gắn kết, bền chặt để xây dựng thành công Chủ nghĩa Xã hội và để có một cõi Niết bàn trong cuộc sống mỗi con người giữa trần gian.
Thời đại chúng ta đang sống là thời đại văn minh của một thế giới đại đồng, cho nên dù ở trong mọi thời đại nào Đạo Phật cũng luôn luôn lấy yếu tố “phụng sự chúng sanh” làm kim chỉ nam để hoằng truyền Phật Pháp, lấy yếu tố khế cơ, tùy duyên để thích nghi với mọi hoàn cảnh, nhưng không làm biến dạng bản thể Phật tánh nơi tâm mình.
Do vậy, ngày lễ của cộng đồng Phật giáo Việt Nam, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng đã phát biểu nhấn mạnh: “Lịch sử đã ghi nhận, thời nào, Phật giáo Việt Nam cũng có những đóng góp xứng đáng cho sự nghiệp bảo vệ xây dựng, phát triển đất nước, và được ghi nhận là Tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc “Hộ Quốc An Dân”.
Phật giáo Việt Nam ngày nay với tinh thần phụng sự Đạo Pháp và Dân Tộc hội nhập thế giới là nhu cầu cần thiết đem Đạo Pháp truyền bá đến mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội, nhất là đồng bào dân tộc vùng sâu vùng xa trên mọi miền của Tổ Quốc.
Xã hội ngày nay, kinh tế, vật chất có phần khả quan và đang chuyển biến, phát triển theo điều kiện, hoàn cảnh, thời gian. Thế nhưng, khổ đau của con người, vấn nạn của xã hội, môi trường ô nhiễm ngày càng tăng, nhất là nghèo đói, bệnh tật, thiên tai v.v… tiện nghi vật chất trong sinh hoạt càng ngày càng nhiều, nhưng môi trường bị hủy hoại trầm trọng làm cho khí hậu thay đổi, địa cầu nóng lên, thiên tai bất thường, động đất, sóng thần thường xảy ra làm thiệt hại mạng sống và tài sản con người v.v… Do đó, các hoạt động của Hoằng pháp và Từ thiện luôn kết hợp với nhau, nhất là đối với đồng bào dân tộc vùng sâu vùng xa làm sao mau chóng thoát cảnh nghèo đói bệnh, bệnh tật, ngu dốt.
Hoằng pháp là để đáp ứng nhu cầu “Tín ngưỡng Phật giáo”, khiến nhân sinh thoát ly khổ não, là món ăn tinh thần cho cuộc sống không thể thiếu. Thế nên “Tín ngưỡng Phật giáo” cũng được xem là sự chuyển hóa. Sự chuyển hóa của Đạo Phật là chuyển hóa tâm hồn con người, chuyển khổ đau thành hạnh phúc, chuyển khổ não thành an lạc, chuyển hận thù thành tình thương, không còn cảnh sầu bi, chỉ có cảnh sắc tươi đẹp và tâm hồn trở nên thanh thản nhẹ nhàng để hoàn thiện mình trong cuộc sống.
Hoạt động Từ thiện của Phật giáo trước hết nhằm xoa dịu nỗi khổ của những con người đang chịu nhiều bất hạnh trong cuộc sống và cũng là cơ hội để Phật giáo đi sâu, gắn kết với cộng đồng dân tộc và đào tạo con người với những phẩm chất tốt đẹp để góp phần xây dựng đất nước.
Thế nhưng “có thực mới vực được đạo”câu này thật thực tiễn trong cuộc sống, nên:
Từ thiện xã hội là một trong những hoạt động hàng đầu, vô cùng quan trọng của Phật giáo Việt Nam. Nên năm 1987 đến nay Từ thiện xã hội Phật giáo được chính thức đưa vào Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Phật giáo có câu: “Phụng sự chúng sanh là thiết thực cúng dường chư Phật”, và cùng với tấm lòng nhân từ đức độ trong nhân gian được ghi nhận muôn thưở là:
Dẫu xây chín đợt phù đồ,
Không bằng làm phúc cứu cho một người.
Hiện nay trong nước có nhiều cơ sở từ thiện của Phật giáo, thường là trong nội tự của mình như Tuệ Tĩnh Đường, chăm sóc kẻ khuyết tật, nuôi dưỡng người già neo đơn, nuôi dạy cô nhi, … nhưng nhu cầu và giải pháp truyền bá giáo lý và từ thiện đến tận vùng sâu vùng xa thì chưa mấy khả quan. Điều này vẫn là đề tài tham luận mới mẻ của Tăng Ni mỗi khi có cuộc hội thảo. Tại sao?
Vẫn biết, chúng ta nâng cao đời sống tinh thần của người dân cũng là một đóng góp tích cực về mặt văn hóa góp phần xây dựng xã hội lành mạnh, văn minh. Tuy nhiên, nhiều khi “lực bất tùng tâm” vì ở nông thôn, chùa nghèo vật chất thiếu thốn chưa thuận lợi cho việc giảng dạy, thuyết pháp; dân nghèo ban ngày họ đi làm đến chiều tối mới về, nếu muốn tập trung họ để phát quà thì rất dễ, còn tập trung để nghe pháp thì cả một vấn đề khó khăn, cho dù họ đã Quy Y Tam bảo. Vì thế Hoằng pháp Và Từ thiện phải khế hợp mới thành công, nghĩa là chúng ta phải phụng sự đầy đủ yếu tố vật chất lẫn tinh thần.
Vì từ trong bản chất của cuộc sống, con người có thể chấp nhận cái khổ vật chất nhưng lại không thể chịu đựng cái khổ tinh thần, cái khổ tinh thần dễ dàng đưa con người vào đường cùng không có lối thoát, không có chỗ nương tựa, thậm chí dẫn đến những “tệ nạn xã hội”.
Vấn đề khó khăn cho tu sĩ khi muốn đến một địa điểm hẻo lánh xa xôi để truyền đạo nơi mà chưa có Chùa, Tịnh Xá, Niệm Phật Đường, muốn thành lập một cơ sở, thủ tục hành chánh không phải là chuyện dễ dàng đối với các cấp hạ tầng cơ sở thuộc chính quyền. Tuy rằng Phó Thủ Tướng đã khẳng định: “Đảng và Nhà Nước luôn đảm bảo thực hiện quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, tạo điều kiện cho đồng bào và chức sắc các tôn giáo thực hiện cuộc sống tu hành chân chính, sinh hoạt Tôn giáo trong khuôn khổ Pháp Luật và làm tròn nghĩa vụ của Công Dân đối với Tổ Quốc”.
Vấn đề truyền bá, khai mở đạo tràng đòi hỏi vị Bồ tát này phải đầy đủ Pháp nhân, Pháp lý. Cho dù đầy đủ Pháp nhân Pháp lý vị này vẫn phải chịu nhiều áp lực từ mọi phía nên dễ đưa đến sự chán nãn mà bỏ đi cái lý tưởng “Phụng sự Đạo pháp” ban đầu. Chưa kể vấn đề áp lực của ngoại giáo v.v… Vấn đề truyền bá giáo lý đạo Phật ở vùng sâu, vùng xa thật là vất vả khó khăn, làm sao “ngồi mát ăn bát vàng” như một số định kiến không tốt về tu sĩ.
Những Nhu cầu Và Giải pháp truyền bá:
Chúng Ta, một Sứ giả Như Lai muốn truyền bá Đạo Pháp đến tận vùng sâu vùng xa trên mọi miền của Tổ Quốc được khả thi, thì nhu cầu cần thiết phải có:
Điều thứ nhất: Cần một vị Bồ tát có tâm lực Bi, Trí, Dũng, đầy đủ pháp nhân, pháp lý, nhân duyên, tốt hơn nữa là nên thông thạo ngôn ngữ của đồng bào thiểu số tại địa phương.
Điều thứ hai: Cần có kế hoạch ngân quỹ trước khi vào vùng sâu vùng xa. Bồ tát phải hoạt động từ thiện liên tục thường xuyên tại địa phương đó cộng những phương án xóa đói giảm nghèo phụ với nhà nước, hỗ trợ cho chính quyền địa phương sở tại, như dân gian nói: “ăn cây nào rào cây nấy” phải tạo niềm tin cho nhân dân và chính quyền trước, rồi mới vì đó nói pháp khiến người nghe, tin, hiểu và ứng dụng Chánh Pháp trong cuộc sống hiện tại, thoát khỏi sầu, ưu, bi, khổ não.
Điều thứ ba: Trùng tu hay xây dựng Chùa. Với những hành động “tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách” Bồ tát mới có đầy đủ thiện duyên với các cấp chính quyên địa phương để thuận duyên cho việc xin kiến thiết, trùng tu hoặc xây dựng ở đó được một ngôi Chùa hoặc Tịnh Xá, Tịnh Thất, Niệm Phật Đường, nói chung muốn làm tốt đạo thì phải đẹp đời, phải làm tốt đời thì mới đẹp đạo. Hai sự việc đó Sứ giả Như Lai phải thể hiện đi đôi đúng như bản hoài của Chư Phật. Phật lực sẽ gia hộ cho Bồ tát sớm thành công và phát triển trong sứ mạng hoằng dương chánh pháp, tế độ nhân sinh.
Với một tinh thần lợi tha vì lý tưởng, vì chính nghĩa sắp và đang thực hiện, chúng ta nên như một đứa bé mới sinh, phải chập chững đi từng bước một.
Bước thứ nhất: Tại địa phương đó Bồ tát hoạt động từ thiện cứu trợ đồng bào nghèo thường xuyên. Hằng năm tham gia với chính quyên phong trào ủng hộ dân nghèo ăn tết.
Bước thứ hai: Xóa đói giảm nghèo cho dân, tham gia quỹ vì người nghèo của chính quyền địa phương sở tại.
Bước thứ ba: Xây Chùa, Cơ sở thờ tự. Tham gia kết hợp với nhà nước Bảo Vệ Môi Trường, An Sinh Xã Hội, Phòng Chống Tệ Nạn Xã hội, HIV/AIDS v.v…
Bước thứ tư: Tham gia cùng các cấp chính quyền sở tại Xây dựng Nhà Tình Thương.
Bước thứ năm: Mở lớp Giảng dạy Giáo lý kết hợp với từ thiện xã hội, mở lớp học Tình Thương, Tuệ Tĩnh Đường, Nuôi Dạy Cô Nhi, Chăm Sóc Người già tàn tật, Neo đơn v.v…
Trên đây là những nhu cầu và giải pháp truyền bá Chánh Pháp ở vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiếu số. Kính đề nghị chư vị chức sắc Phật giáo và Giáo hội nên quan tâm sâu sát hơn nữa và yểm trợ những vị Bồ tát có tâm từ bi với chí nguyện cao cả “Hoằng Pháp Lợi Sanh” đã, đang và sắp xây dựng một nếp sống an lạc cho nhân dân trên nền tảng Chánh Pháp đang gặp phải những chướng ngại, khó khăn, để chúng ta cùng nhau thực hiện đúng phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa Xã hội”.
Trước khi dứt lời, kính chúc Chư Tôn Đức Giáo Phẩm Lãnh đạo Trung ương Giáo hội, các Tỉnh Thành hội Phật giáo, quý vị đại biểu lời chào đoàn kết.
Kính chúc Hội thảo Kỷ Niệm 30 Năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành công tốt đẹp.
NHU CẦU VÀ GIẢI PHÁP CHO VIỆC TRUYỀN BÁ PHẬT PHÁP
ĐẾN VÙNG SÂU VÙNG XA
SC. Thích Đồng Hòa
Ủy viên Ban Hoằng pháp, Ban Văn hóa,
Ban Giáo dục Thành hội Phật giáo Hà Nội
Đạo Phật truyền vào Việt Nam đến nay đã hơn 20 thế kỷ, vốn có tư tưởng truyền thống gắn liền với sinh hoạt văn hóa ''nông nghiệp lúa nước'' - một nền văn hóa nhân bản, bao dung, trí tuệ, khai phóng, đượm sắc thái hiếu sinh, hiếu hòa và giải thoát. Chính vì thế, đạo Phật đã được nhân dân Việt Nam đón nhận một cách trân trọng có chọn lọc và đã trở thành tôn giáo của dân tộc trên cơ sở đạo đời không thể phân ly, có những đóng góp tích cực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước ngay từ những buổi ban đầu. Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một tổ chức kế thừa sinh mệnh hoằng pháp độ sinh của Lịch đại Tổ sư, các bậc Tiền bối, các tổ chức tiền thân…
Đất nước Việt Nam có 54 dân tộc anh em chung sống. Dù chúng ta rất cố gắng thực hiện lời nguyện “Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ”, nhưng 30 năm qua, GHPGVN vẫn chưa đem giáo pháp vô thượng thậm thâm của Đức Phật đến với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu vùng xa hết được, thế nên những hiểu biết về giáo lý Đức Phật, những tư tưởng văn hóa đạo đức của họ rất là đơn giản và lạc lạc hậu. Từ khi thống nhất Phật giáo thành lập GHPGVN đã trôi qua nay tròn 30 năm tuổi, đây là một bước ngoặc dài GHPGVN phát triển vững bước đồng hành cùng dân tộc đưa đạo vào đời hành đạo, giương cao ngọn đuốc trí tuệ, soi sáng cho những ai còn mê vọng, đóng góp sức mình vào dòng chảy văn hóa đạo đức từ bi trí tuệ của dân tộc Việt Nam. Nhưng hiện nay Phật pháp chỉ mới truyền bá đến được những đồng bào dân tộc Kinh, người Hoa và đồng bào Khmer, còn nhiều dân tộc khác, những vùng hải đảo, những tỉnh không có Phật giáo hoặc Phật giáo chưa lan tỏa đến hoặc rất ít không đáng kể.
Vì thế cho nên sau bài pháp đầu tiên tại Vườn Nai, Đức Thế Tôn đã khuyến hóa năm anh em ông Kiều Trần Như: “Này các thầy tỳ kheo các vị hãy đi hoằng hóa giáo pháp đến khắp nơi, không đi chung hai người trên một đường. Chỉ với năm vị Thanh văn, không lời phát nguyện vì chúng sinh nào, chỉ vì thấy lợi ích thiết thực nơi giáo lý vi diệu của ta, các Tỳ kheo hãy mạnh dạn dấn thân vào công cuộc hoằng hóa độ sinh…” Sau này, có thêm nhiều Tỳ kheo khác nữa, nhưng phải kể đến là tinh thần hoằng pháp dù phải thiệt thòi đến tính mệnh như của ngài Phú Lâu Na. Nhờ vậy, ngọn đèn chính pháp của Đức Thế Tôn lan tỏa, hết thế hệ này truyền nối đến thế hệ khác, tinh thần hoằng pháp cứu mê tình, bất luận dòng tộc nào, đất nước nào, bởi các Ngài biết rằng: “Người có Nam - Bắc nhưng Phật tính không Bắc - Nam” (Lục Tổ Huệ Năng). Nhờ vậy, ngày nay chúng ta dù ít hay nhiều cũng thấm được phần nào giáo lý thâm sâu của Đức Phật, thấy được con đường nên đi, việc cần phải làm, định hướng cho tâm tư tìm về an lạc vĩnh cữu. Công ơn hóa độ của Đức Phật, công đức truyền trao ngọn đèn chính pháp của Lịch đại Tổ sư, các bậc Tiền bối chúng ta không thể không ghi nhớ hết được, nhưng không thể không học tập. Bởi vậy, hiện nay còn rất nhiều dân tộc, đồng bào vùng sâu, vùng xa chưa biết đến giáo lý thậm sâu vi diệu của Đức Phật, chúng ta không thể làm ngơ được, không thể dửng dưng sống “độc thiện kỳ thân” được. Chúng ta phải tự đặt trách nhiệm lên vai, dù phải hóa thân, hóa kiếp để ngọn đèn của Đức Thế Tôn soi tận đến chân trời góc biển. Đó mới là hạnh nguyện Bồ tát hạnh, đại từ đại bi. Như người đời thường nói: “Cho cái cần để tự câu cá”, “cho chiếc cầu để tự qua sông”.
Vâng! Cho cá hay cõng qua sông thì người ta ỷ lại! Được như vậy là một phần của báo ân Phật, là thể hiện tinh thần từ bi đệ tử của Phật vậy.
Hơn 2000 năm qua đồng hành cùng dân tộc Việt Nam, dòng máu của dân tộc là dòng máu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đất nước Việt Nam có hưng thịnh thì Phật giáo Việt Nam mới được hưng thịnh. Là thành viên của Phật giáo Việt Nam là thành phần của đất nước, chúng ta không thể không quan tâm đến nền văn hóa Việt Nam được. 30 năm qua, ghi Phật giáo Việt Nam đã đóng góp rất nhiều vào nền văn hóa dân tộc bằng vật thể hay phi vật thể. Điều này khó ai phủ nhận được. Đó là những cơ ngơi, những di tích lịch sử, những ngôi Chùa, Thiền viện…là những nơi trung tâm hoằng pháp rất lớn mạnh, đặc biệt là Phật giáo miền đồng bằng Bắc bộ trong những năm gần đây được Trung ương GHPGVN, cũng như Ban Hoằng pháp Trung ương quan tâm và phát triển mạnh đến các vùng sâu vùng xa nhiều hơn trước một ít như các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Bắc Cạn… tạo thành những án thơ văn, những bài pháp những hoặc động từ thiện xã hội vừa thuyết pháp giáo hóa vừa giúp đỡ bà con nghèo khổ cực ở những tỉnh giáp ranh Trung Quốc, Lào, Campuchia đây là những thành tựu không thể định hình được hết đó là tinh thần “Từ bi và trí tuệ” của các bậc chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội, của Ban Hoằng pháp, Ban Hướng dẫn Phật tử, Ban Văn hóa, Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương cùng sự giúp đỡ của các cấp lãnh đạo có tấm lòng vị tha với Phật giáo mà Lý Thái Tổ, Lý Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du… các ngài đã thấm nhuần và truyền trao lại cho chúng ta ngày hôm nay bằng văn thơ bút tích, để đúc kết nên khí thiêng dân tộc, tạo nên những anh hùng những người hết lòng vì đạo pháp, vì dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, giờ đây chúng ta nhìn lại một cách sâu sắc hơn ở các Tỉnh thuộc vùng Tây Bắc, các tỉnh miền Trung, vùng sâu, vùng xa của Tây Nguyên… chúng ta sẽ không tìm thấy cái gì là biểu tượng, hình bóng của Phật giáo, nói gì đến sự tu tập để được an lạc trong ánh hào quang của Đức Phật? Chúng ta phải cùng chung tay góp sức với, Đảng, Nhà nước, lãnh đạo các cấp làm thế nào để đẩy mạnh phong trào Làng văn hóa, Bản văn hóa, cải hóa phong tục tập quán lạc hậu vùng sâu, vùng xa đem giáo pháp của Đức Phật đến cho họ bằng nhiều cách như trùng tu tôn tạo các công trình văn hóa Đình Chùa, xây dựng những trung tâm Hoằng pháp lớn, nhỏ nhiều nơi trong nước, đào tạo tăng tài, tạo điều kiện giúp đỡ cũng như khuyến hóa những vị Tăng Ni trẻ có đạo hạnh, trình độ Phật học và thế học và các vị cư sỹ có đạo tâm, có trình độ Phật học phát tâm đến những vùng sâu vùng xa để hoằng dương Phật pháp nhiều hơn nữa để góp phần xây dựng cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân trong thời hội nhập.
Với tâm nguyện như thế, nhưng giải pháp nào để thực hiện tâm nguyện này, Chúng con xin mạo muội trình bày một vài giải pháp sau đây:
- Ban Hoằng Pháp Trung ương cũng như Ban Hoằng pháp ở các tỉnh, thành phố kết hợp cùng với các ban Từ thiện Xã hội, Tăng sự, Văn hóa, Hướng dẫn Phật tử, Kinh tế Tài chính.. chuyên sâu về công tác hoạt động này.
Tuyển chọn Tăng Ni, Phật tử (các Hoằng pháp viên, tình nguyện viên) có tinh thần hoằng pháp độ sinh, không ngại gian lao chẳng từ khó nhọc, biết hy sinh cá nhân vào thành viên của Ban Hoằng Pháp.
- Tìm và mời người biết các ngôn ngữ dân tộc thiểu số, cách sống, phong tục tập quán, theo từng vùng, miền… để dạy cho Tăng Ni, Phật tử tình nguyện. Chú ý đến nếp sống tập quán của bản xứ họ.
- Chọn người tình nguyện có tinh thần hoằng pháp, biết cầu thị, biết thích nghi với phong thổ, xã hội.
- Bổ nhiệm hoặc thuyên chuyển Tăng, Ni các tỉnh có đông đến những tỉnh có cơ sở nhưng chưa có Tăng Ni, nhất là vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa, núi cao, hải đảo. Hiện nay có Tỉnh, Thành Tăng Ni tập trung quá đông nhưng không hoạt động vào Phật sự gì chính đáng, thậm chí còn gây quá tải cho địa phương, còn những tỉnh thì thiếu hụt quá nhiều.
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên rà soát lại một số vùng có tín đồ Phật tử là người kinh nhưng chưa có cở sở hoạt động thì xin phép nhà nước để xây dựng cơ sở, dù nơi đó không nhiều lắm nhưng được xem là trường hợp đặc biệt. Bởi lẽ, từ cơ sở này Phật pháp sẽ được lan tỏa đến đồng bào dân tộc thiểu số dễ dàng hơn.
- Kinh phí hoạt động để làm từ thiện xã hội chú ý quan tâm nhiều hơn nữa về vùng sâu, vùng xa nên tập trung đầu tư vào công tác hoằng pháp như: Xây dựng cơ sở Tự viện, xây dựng trường Mẫu giáo, Bệnh viện y học dân tộc, nhà dưỡng lão tại các vùng sâu, vùng xa, ưu tiên miễn phí cho đồng bào nghèo, dân tộc thiểu số.
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần phải tranh thủ sự hỗ trợ đặc biệt của Nhà nước, Chính phủ, Mặt trận đối với công tác này.
- Thường xuyên kiểm tra, đúc kết rút kinh nghiệm về những công việc đã làm xong.
- Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần nghiên cứu đầy đủ, và đặc biệt liên hệ chặt chẽ với Ban Tôn giáo Chính phủ xin hỗ trợ, để chương trình này có hiệu quả tốt.
Ban Hoằng pháp thực hiện chức năng hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử phát huy tư tưởng trong sáng của giáo lý đạo Phật, làm cho ý nghĩa đích thực của đạo Phật được thể hiện trong công cuộc xây dựng đất nước, mang lại hạnh phúc an vui cho mọi người; tổ chức biên soạn những bài giảng cho các ngày lễ lớn, biên soạn chương trình học giáo lý của Phật tử; đào tạo các giảng sư của Ban Hoằng pháp, mở khóa tập huấn cho giảng sư, điều phối, phân bổ giảng sư thuyết giảng Phật Pháp trong phạm vi cả nước và có thể ở các nước trên thế giới, đặc biệt nhất là vùng sâu vùng xa, vùng biên cương, hải đảo.
Điểm nổi bật trong công tác hoằng pháp ngày nay là không những thực hiện đúng theo tông chỉ và mục đích của chính pháp, mà còn được vận dụng một cách "khế lý, khế cơ" vào hiện thực cuộc sống trên hai phương diện lý thuyết và thực hành. Kết quả đạt được chứng tỏ rằng, chính yếu tố đoàn kết thống nhất của các tổ chức hệ phái Phật giáo trên quy mô cả nước đã đưa đến sự thống nhất về quan điểm tư tưởng và giáo lý trong chương trình thuyết giảng Phật Pháp tại các đạo tràng,Tự viện và trong Tăng Ni, Phật tử ngày nay.
Tóm lại, vì báo ân chư Phật, thể hiện tinh thần từ bi và trí tuệ, vì sự phát triển của cộng đồng dân tộc Việt Nam, vì sự bền vững của đạo pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam chúng ta phải cấp thiết xây dựng một chương trình kế hoạch hóa cụ thể, phối hợp chặt chẽ với Đảng, nhà nước để đẩy mạnh truyền bá giáo lý Phật Đà đến vùng sâu vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số.
Muốn phát triển bền vững trong công việc hoằng truyền Phật Pháp đến vùng sâu vùng xa thì chúng ta phải gấp rút hành động thêm những điểm sau đây:
1. Mở trường lớp đào tạo Tăng tài Nội trú (Phật học viện) trên khắp đất nước.
2. Giúp đỡ, khuyến khích giới Tăng, Ni sinh trẻ phải luôn luôn mến đạo, yêu quê hương và đất nước để xứng đáng là lớp kế thừa tốt đẹp nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đủ sức hướng dẫn những người tin Phật gia nhập vào Giáo hội.
3. Giáo dục hàng Tăng Ni trẻ luôn giữ thân tâm trong sạch, đạo đức trong tinh thần bất vụ lợi, không đắm say thế lợi. Tích cực hành động cho hòa bình thế giới. Từ chối việc tham gia vào bất cứ một liên minh lực lượng nào và nhất là không tham gia hay ủng hộ các cuộc biểu tình “mítting” hay bất cứ tổ chức chính trị nào gây mất đoàn kết hòa hợp trong nhân dân hay tín đồ Phật tử.
4. Đào tạo các Tu sỹ trẻ có khả năng, kiến thức trở thành những kiến trúc sư, những nhà hoằng pháp giỏi có tài có đức cho Phật giáo, cho Giáo hội, có đủ tài trí phát triển văn hóa Phật giáo và mỹ thuật theo đúng tiêu đề Phật giáo Việt Nam.
5. Trùng tu, xây dựng những danh lam Phật tích.
6. Thống nhất nghi thức hành lễ trên toàn quốc.
7. GHPGVN gởi Thông tư đến thôn, xã, các tỉnh, thành trong cả nước về chỉ thị bảo tồn di sản văn hóa của Phật giáo nơi địa phương mình đang quản lý.
8. Đặt kế hoạch cho mỗi tỉnh hội phải được một viện mồ côi, nơi tá túc cho người già neo đơn. Một phòng chuyên phát hành kinh sách Phật giáo tự do cho dân chúng.
9. GHPGVN và Ban Hoằng Pháp Trung ương có chương trình thuyết pháp hằng tháng tại các vùng sâu, vùng xa, đô thị và các tỉnh thành.
10. GHPGVN chọn lựa đề cử những Tăng Ni đã tốt nghiệp các Khóa Phật học viện, Cao học, Tiến sỹ về trụ trì các chùa làng xưa chưa có người trụ trì và Giáo hội Phật giáo các tỉnh phải thường xuyên thăm hỏi, an ủi, khích lệ, tạo điều kiện thuận lợi cho các vị Tăng Ni đó trụ trì an tâm hành đạo.
11. Coi trọng việc giáo dục đạo đức cho hàng Cư sĩ, nhất là các đoàn thanh niên, các câu lạc bộ, các gia đình Phật tử.
Thời gian tới đây của thế kỷ 21, Phật giáo chắc chắn sẽ có nhiều sự thay đổi mà giáo lý Đại thừa của Đức Phật vẫn là nền tảng căn bản để phát triển Phật giáo trên toàn thế giới, không riêng gì cho Việt Nam. Khoa học phát triển mạnh chừng nào thì giá trị tinh thần Phật giáo càng tăng cao, vượt trội. Xã hội con người hôm nay đang chuyển từ kỷ nguyên công nghiệp sang kỷ nguyên thông tin. Nhờ sự phát triển khoa học cao, làm phương tiện cho dân trí các tầng lớp người trong xã hội có nhiều thay đổi từ văn minh vật chất sang văn minh tri thức. Sự thay đổi này buộc các vị Tu sĩ, Tăng già phải luôn luôn sống đúng phạm hạnh của một vị xuất gia hành đạo, làm đúng theo lời Phật dạy, nghiêm giữ giới luật để áp dụng khả thi bảo tồn giáo pháp và phát triển niềm tin cho tín đồ Phật tử.
Tăng Ni trẻ ngày nay phải biết rằng: Chính mình là người duy trì mệnh mạch giáo pháp của đức Như Lai, là thế hệ kế thừa, thừa hành Phật sự của Đức Phật, của chư tôn đức Tăng già của các bậc tiền nhân của chư lịch đại Tổ sư. Tại thời điểm này, một trong ba ngôi báu Tam bảo đó là Tăng bảo vẫn tồn tại đã hơn 2550 năm qua. Nhờ các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, các vị thiện tri thức đã ý thức được sự tối thượng siêu việt về chân lý của Đức Phật.
Chư Tăng Ni trẻ phải luôn tư duy và chấp nhận xả thân cho Đạo, cho đời. Biết ban vui, cứu khổ, giảm đau thương cho con người trong xã hội. Biết lấy tình thương làm lẽ sống chân chính cho mình. Biết đem sức mạnh giáo dục trong thời kỷ nguyên thông tin này gieo hạt giống đạo đức trên quê hương đất nước và toàn thế giới qua Internet. Muốn làm được như thế, tự mình phải nâng cao trình độ tri thức mà nhất là phần kinh điển phải làu thông, sẵn sàng trả lời khi một Phật tử có yêu cầu tìm hiểu các sự việc có liên quan trực tiếp đến phần Giáo điển Phật Đà. Sẵn sàng giải thích rõ ràng về Phật pháp cho các Cư sĩ tại gia và cho tất cả mọi người khi họ muốn tìm hiểu về Phật pháp.
Các vị Tu sĩ trẻ phải luôn nhớ câu trả lời của Đức Phật khi có người được hỏi rằng: “Làm thế nào để một giọt nước có thể chẳng bao giờ khô đi”? Đức Phật trả lời:“Hãy cho nó vào biển cả”. Khi các vị Tu sĩ trả lời xong bất cứ một câu hỏi nào dù dễ hay khó mấy đi nữa vẫn giữ thái độ bình thản khiêm hạ với mọi người. Tất nhiên sự kính trọng được tài bồi thêm gấp bội.
Sự tồn tại của Giáo hội luôn gắn liền với mối quan hệ cộng đồng của hàng Phật tử tại gia ở thành phố và ở vùng sâu vùng xa.
Trong tương lai GHPGVN có phát triển tốt đẹp hay không là phần lớn ở lớp Tăng Ni trẻ có tâm huyết với đạo pháp với dân tộc biết kế thừa và có được Giáo hội Phật giáo đào tạo đúng chất lượng hay không?
Tôn giáo là người đồng hành cùng loài người trong xã hội kể từ khi xã hội mới phát triển. Đây là một nhu cầu tâm linh của con người đồng thời cũng là một bộ phận không thể tách rời ra khỏi lịch sử văn minh nhân loại.
Đạo Phật là một tôn giáo luôn gắn bó với dân tộc như nước thấm sâu vào lòng đất. Điều đó đã được thể hiện suốt chiều dài lịch sử Phật giáo thế giới nói chung và lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng. Hơn hai nghìn năm Phật giáo hiện diện ở Việt Nam đã trở thành một tôn giáo dân tộc, chưa bao giờ thoát khỏi đời sống xã hội. Đất nước hưng long, Phật pháp được xiển dương, xương minh; đất nước khó khăn, Phật giáo cũng chung số phận, đó là mối quan hệ biện chứng giữa Đạo và Đời, cái này là tiền đề cho cái kia. Do vậy, ngay sau khi giành được độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã coi tôn trọng và đảm bảo tín ngưỡng tôn giáo là chính sách chiến lược, nhằm đem lại cuộc sống an lạc, hạnh phúc cho đồng bào tôn giáo trên khắp mọi miền đất nước, trong đó có Tăng Ni, Phật tử Việt Nam chúng ta.
Những thành tựu Phật sự trên là sự nỗ lực trách nhiệm chung của các cấp Giáo hội và Tăng Ni, Phật tử trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tổ chức và hoạt động chung của Giáo hội, đồng thời xuất phát từ chính sách, pháp luật tôn trọng và bảo đảm tự do tín ngưỡng tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Thực tiễn cho thấy, những nơi nào mà mỗi cấp Giáo hội, Tăng Ni, Phật tử quan tâm giải quyết tốt giữa lợi ích của đạo và đời trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tôn chỉ mục đích hoạt động của tổ chức thì ở đó phát triển, ổn định. Ngược lại ở những nơi nào có những biểu hiện thái quá, đều dẫn đến sự trì trệ, mất đoàn kết trong tổ chức và mỗi trụ xứ, giảm sút uy tín, làm sai lệch nguyên tắc hoạt động và chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Trước xu thế hội nhập phát triển chung của đất nước và cộng đồng quốc tế, các cấp Giáo hội Phật giáo Việt Nam phải không ngừng phát huy truyền thống gắn bó với dân tộc đã được hun đúc, tạo dựng suốt chiều dài lịch sử Phật giáo Việt Nam, đồng thời phải đổi mới trong công tác tổ chức và hoạt động Phật sự, nhằm thích ứng với điều kiện hiện tại và tương lai. Trong quá trình tổ chức thực hiện, cần phải đổi mới tư duy và nhận thức, phải triệt để tuân thủ nguyên tắc hoạt động chung đã được thể hiện trong giới luật Phật chế và quy định của Giáo hội, cũng như pháp luật của Nhà nước, đó là sự sống còn của tổ chức và là nhân tố bảo đảm cho mọi thành tựu chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
GHPGVN cần có sự quan tâm đến vị trí góp sức của chư Tăng Ni và hàng cư sĩ nam nữ trẻ năng động, nhiệt tình, có kiến thức để đứng vào hàng ngũ chuyên môn của Giáo hội. Lực lượng kế thừa này sẽ hỗ trợ đắc lực cho đường hướng lãnh đạo của các bậc tôn túc, phù hợp với tình hình phát triển chung của đất nước và Giáo hội hiện nay. Chúng ta tin tưởng tứ chúng Tăng Ni và nam nữ Phật tử thực tài thực học ngày càng có nhiều tấm gương dấn thân hoằng pháp đến những nơi hẻo lánh, vùng sâu vùng xa, gánh vác một phần trách nhiệm giúp nâng cao đời sống văn hóa tâm linh chân chính cho đồng bào, cho dân tộc. Phật giáo Việt Nam và dân tộc Việt Nam luôn gắn liền và hòa quyện nhau như hình với bóng. Cũng như lòng mong muốn thống nhất đất nước của toàn dân tộc, tín đồ Phật giáo luôn có ý thức thống nhất Phật giáo từ những thập niên 50.
“Đạo Pháp – Dân tộc - Chủ nghĩa- Xã hội”, là phương châm hoạt động thể hiện tôn chỉ, mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Phương châm đó bắt nguồn từ tư tưởng trong sáng của giáo lý đức Phật và lịch sử truyền thống hộ quốc an dân hơn 2000 năm Phật giáo Việt Nam, với truyền thống yêu nước suốt dòng lịch sử dựng nước và giữ nước, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Điều đó thể hiện truyền thống hộ quốc an dân của Phật giáo Việt Nam. Nhiều tấm gương "người tốt, việc tốt" của Tăng Ni, Phật tử trong cả nước xuất hiện và được Đảng, Nhà nước tặng thưởng huân chương, huy chương cao quý các loại. Hàng trăm Tăng Ni, Phật tử hoàn thành tốt nghĩa vụ quân sự góp phần bảo vệ Tổ quốc khi có chiến tranh rồi trở lại đời sống tu hành, nêu cao tinh thần phụng đạo yêu nước. Thế nên, Nhu cầu và giải pháp cho việc truyền bá Phật Pháp đến vùng sâu vùng xa là một nhu cầu thiết yếu cho nhân dân Phật tử ở vùng sâu vùng xa, góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước./.
MỘT SỐ ĐÓNG GÓP CỦA PHẬT GIÁO
CHO XÃ HỘI NÔNG THÔN VIỆT NAM HIỆN NAY
Ths. Dương Hoàng Lộc
Trường Đại học KHXH&NV-ĐHQG.TPHCM
Ngày nay, Việt Nam đang nỗ lực phát triển đất nước theo hướng bền vững, tức đảm bảo sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, duy trì bản sắc văn hóa. Là một quốc gia nông nghiệp, hiện có khoảng 70% dân số sinh sống ở nông thôn, cho nên vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn mang ý nghĩa quan trọng và chiến lược trong việc xây dựng Việt Nam ngày càng văn minh, giàu mạnh. Trong những năm qua, theo đà phát triển chung của đất nước, bộ mặt nông thôn nước ta có nhiều tiến bộ, đời sống của người nông dân không ngừng được cải thiện. Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại khá nhiều thách thức tác động đến nông thôn Việt Nam, nhưng nổi cộm nhất có nhiều vấn đề xã hội tồn tại như Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của Ban Chấp hành TW khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã chỉ rõ: “Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu qui hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội còn thiếu qui hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm, năng lực thích ứng, đối phó với thiên tai còn nhiều hạn chế. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, nhất là vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc”[1]. Vì vậy, để công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, cũng như đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững, việc giải quyết các vấn đề xã hội nông thôn nước ta là một ưu tiên lớn trong chính sách của nhà nước Việt Nam. Hơn lúc nào hết, Phật giáo, vốn có lịch sử gắn liền với người nông dân Việt Nam, lại là một nguồn lực xã hội quan trọng, sẽ góp phần vào sự phát triển xã hội ở nông thôn nước ta.
- 1. Những vấn đề xã hội nông thôn Việt Nam hiện nay
Vai trò của nông nghiệp, nông dân và nông thôn được Đảng và nhà nước xác định: “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước”[2]. Tuy nhiên, trong những năm qua, nông thôn nước ta đã có nhiều vấn đề xã hội phát sinh như nông dân bị mất đất nông nghiệp, nhiều bệnh lạ, bệnh dịch xuất hiện do ô nhiễm môi trường, di dân ồ ạt đến các đô thị lớn, nghèo đói và phân tầng xã hội ngày một tăng, thiếu việc làm... Hiện tại, có thể đề cập đến một số vấn đề xã hội đang nổi cộm ở nông thôn nước ta là:
- Thứ nhất, an ninh đất đai ở nông thôn là vấn đề thời sự. Đất đai luôn gắn liền với cuộc sống và vận mệnh của người nông dân, cũng như là việc đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Tuy nhiên, trong thời gian qua, các tỉnh và thành phố đã phát triển nhanh các khu chế xuất, khu công nghiệp, đô thị mới và sân golf đã triệt thoái đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa, đe dọa đến an ninh lương thực và ảnh hưởng đến đời sống của người nông dân. Tác động xã hội của vấn đề này một bộ phận người nông dân mất ruộng, chỉ có ít tiền được đền bù và rơi vào tình trạng khó khăn trong chuyển đổi việc làm. Nó còn gây nên tình trạng tranh chấp, khiếu kiện của nông dân với chính quyền địa phương trong việc thu hồi đất, bồi thường và giải tỏa ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội[3]. Ngoài ra, mất an ninh đất đai ở nông thôn còn tác động đến giảm công ăn việc làm của nông dân, sức khỏe người dân do ô nhiễm môi trường, thúc đẩy việc di dân đến các đô thị lớn, giảm thiểu cơ hội tiếp cận giáo dục và y tế, gia tăng nghèo đói, bất bình đẳng và phân tầng xã hội ở nông thôn…
- Thứ hai, môi trường tự nhiên ở nông thôn bị ô nhiễm nặng do chất thải từ các nhà máy ở các khu công nghiệp, khu chế xuất. Vì vậy, người dân ở một số địa phương đã mắc phải nhiều căn bệnh nan y, nhiều nhất là ung thư. Theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2006, một số địa phương có số người mắc và chết do bệnh ung thư cao, gây tâm lý lo lắng trong nhân dân. Hai xã Thạch Sơn và Yên Tập thuộc tỉnh Phú Thọ xuất hiện ung thư gan, phổi và đại tràng từ năm 1991 đến nay. Trong vòng 10 năm nay, ở thôn Lương Đình (xã Bắc Sơn) xảy ra hiện tượng ung thư vú trên phụ nữ, còn ở thôn Thống Nhất, xã Đông Lộ xuất hiện ung thư gan, phổi và dạ dày, vòm họng. Xóm An Tập thuộc thôn An Bắc, xã Nghĩa Kỳ có nhiều người dân bị mắc ung thư gan và hàng chục người đã chết. Nguyên nhân chính là do việc ô nhiễm môi trường sống từ các nhà máy, sử dụng nhiều thuốc trừ sâu, nguồn nước bị nhiễm độc nặng[4]. Biến đổi khí hậu là một thách thức lớn đối với sự phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta trong tương lai. Nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là vùng Đồng bằng sông Cửu Long-vựa lúa của cả nước. Các cơn bão gần đây đổ bộ vào nước ta, đặc biệt ở miền Trung, ngày càng dữ dội và tàn phá nặng nề. Sau bão là lũ quét, cuốn trôi nhà cửa, tài sản, ruộng vườn, vật nuôi.... Ở đó, người dân phải đối mặt với cảnh màn trời chiếu đất, đói kém, tang tóc, bệnh dịch hoành hành… mà phải mất nhiều thời gian mới ổn định được.
- Thứ ba, di dân từ nông thôn ra các thành phố lớn ngày một tăng. Hậu quả xã hội của nó là thiếu lao động sản xuất nông nghiệp, một số làng chỉ còn lại phụ nữ và trẻ em, người già. Người nông dân rời bỏ làng quê đến các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để tìm kiếm việc làm, làm gia tăng thêm tầng lớp nghèo khổ ở đô thị. Họ sinh sống trong một điều kiện khó khăn, vất vả, thường xuyên đối mặt với nhiều nguy cơ tổn thương xảy ra. Một khảo sát của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn năm 2006 ở tám xã thuộc Đồng bằng sông Hồng, Đông Nam bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long cho thấy hầu hết các vùng nông thôn không còn lao động dưới 40 tuổi. Ở tỉnh Thái Bình, khoảng 45% lao động chuyển khỏi nông nghiệp, 20 vạn người làm ăn xa[5].
- Thứ tư, vấn đề đói nghèo ở nông thôn nước ta vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng, chất lượng cuộc sống thấp, sự chênh lệch mức sống giữa đô thị và nông thôn ngày một cao. Mô hình tăng trưởng những năm qua đảm bảo tăng trưởng cao nhưng thiếu bền vững, chất lượng tăng trưởng thấp và chưa gắn chặt với giảm nghèo, tuy mọi người đều hưởng lợi từ kết quả tăng trưởng, nhưng người giàu và khu vực thành thị được hưởng lợi nhiều hơn, còn hậu quả xã hội thì khu vực nông thôn và người nghèo lại gánh chịu nhiều hơn. Công nghiệp hóa, đô thị hóa tập trung dẫn đến tăng trưởng nóng và hậu quả xã hội là phân hóa giàu nghèo có xu hướng gia tăng, vấn đề nghèo tương đối ngày càng nghiêm trọng… Trong đó, khu vực nông thôn, nhất là nông thôn vùng khó khăn, vùng dân tộc, miền núi phát triển chậm chạp và do đó là nơi tập trung phần lớn người nghèo của cả nước, càng về sau công cuộc xóa đói giảm nghèo ở đây lại càng khó khăn. Tỷ lệ hộ nghèo đã thoát nghèo nhưng nằm sát chuẩn nghèo rất lớn (70-80%), tỷ lệ tái nghèo còn cao khoảng 7-10%, hộ nghèo chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn (90%). Vùng miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số hiện có 62 huyện tỷ lệ hộ nghèo trên 50%. Phân hóa giàu nghèo có xu hướng tăng, chênh lệch về thu nhập của nhóm 20% dân số giàu nhất (nhóm 5) so với nhóm 20% dân số nghèo nhất (nhóm 1) lên tới 8,4 lần, chênh lệch mức sống giữa nông thôn và thành thị vẫn trên 2,5 lần[6].
Vì vậy, một trong những vấn đề trọng tâm của công cuộc phát triển nông thôn hiện nay chính là: “Tiếp tục triển khai có hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn nông thôn, nhất là xóa đói, giảm nghèo ở các huyện, xã có tỉ lệ hộ nghèo trên 50%. Khắc phục nhanh những vấn đề bức xúc ở nông thôn, trước hết là những vấn đề tồn tại liên quan tới vấn đề thu hồi đất”[7]. Cụ thể, nếu không giải quyết căn cơ những vấn đề trên, nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người nông dân, làm biến dạng bộ mặt nông thôn, xói mòn truyền thống văn hóa dân tộc và khó thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội nhằm bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước. Cho nên, việc xây dựng xã hội nông thôn với mục tiêu ổn định, có đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng mới, nâng cao đời sống nông dân là một yêu cầu bức thiết. Trong sự nghiệp ấy, các tổ chức xã hội có vai trò quan trọng, đóng góp không nhỏ vào mục tiêu ấy.
- 2. Một số đóng góp của Phật giáo cho xã hội nông thôn Việt Nam
Lịch sử đã cho thấy Phật giáo, ngay từ buổi đầu du nhập, đã có mối quan hệ chặt chẽ, sâu sắc với nông thôn Việt Nam. Ở làng xã, ngôi chùa không chỉ đáp ứng nhu cầu tinh thần, là một biểu tượng văn hóa, mà còn là nơi gắn kết và chia sẻ với đời sống lam lũ, nhọc nhằn của người nông dân. Thông qua hai hình thức phổ biến chữa bệnh cứu người và dạy chữ, chùa là một chỗ dựa vững chắc cho họ, đặc biệt mỗi khi có chiến tranh và thiên tai tàn phá. Đó là vai trò của chùa Việt trong đời sống cộng đồng làng xã[8]. Điều này thể hiện rõ chức năng xã hội của Phật giáo, góp phần hình thành nên tinh thần hộ quốc an dân và đồng hành cùng dân tộc qua nhiều thăng trầm lịch sử, biểu hiện cụ thể về chức năng xã hội của tôn giáo. Chức năng xã hội của tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng được hiểu không chỉ dừng lại ở sự giúp đỡ con người bằng các liệu pháp tinh thần như cúng bái, cầu nguyện, tin tưởng… mà còn biểu hiện thông qua những hành động mang tính thực tiễn thông qua sự hỗ trợ vật chất của các tôn giáo trong thực lực của mình[9].
Mặt khác, trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện nay, để thực hiện tốt chính sách an sinh và phúc lợi xã hội cho các đối tượng xã hội bắt buộc phải có sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội, các tổ chức tư nhân, các cá nhân có chung tấm lòng hướng về tha nhân, vì sự phát triển của cộng đồng. Nhà nước sẽ giữ vai trò giám sát và đề ra chủ trương, chính sách, tạo điều kiện họat động. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh: “Phải huy động các nguồn lực của toàn xã hội để nâng cao an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách nhằm mở rộng sự tham gia của mọi chủ thể vào cung cấp ngày càng nhiều hơn với chất lượng tốt hơn các dịch vụ công cộng. Tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân đề cao trách nhiệm, nâng cao năng lực và tham gia thiết thực vào việc bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Khuyến khích phát triển các mô hình an sinh xã hội tự nguyện ở cộng đồng, các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công cộng theo cơ chế phi lợi nhuận và các hình thức hợp tác công - tư. Đẩy mạnh các cuộc vận động xã hội như: ngày vì người nghèo, phong trào tương thân tương ái, xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết dân tộc..” [10]. Vì vậy, với chủ trương này, Phật giáo Việt Nam sẽ ngày càng có vị trí quan trọng, cùng với nhà nước, đóng góp trong việc giải quyết các vấn đề xã hội đang tồn tại, đặc biệt ở nông thôn và góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Với nông thôn nước ta, do có quá trình gắn bó lâu đời, Phật giáo còn là một nguồn lực xã hội quan trọng trong việc tham gia vào sự phát triền và giải quyết các vấn đề phát sinh của cộng đồng. Lý thuyết phát triển cộng đồng cho rằng, các tổ chức xã hội tại cộng đồng thường có những vai trỏ nhất định bởi đó là các tổ chức do người dân tự nguyện lập lên nhằm đáp ứng các nhu cầu đã xác định cụ thể nào đó, nó thường bền vững do có cơ sở tại chỗ. Trong mỗi cộng đồng nông thôn, các tổ chức, nhóm lập ra bởi rất nhiều nhu cầu, từ các vấn đề kinh tế, tín dụng, các dịch vụ xã hội cơ bản như nước sạch, học hành, y tế và chăm sóc sức khỏe, cho đến nhu cầu văn hóa tinh thần như thờ cúng, cố kết cộng đồng. Đó có thể là các tổ chức được thành lập lâu đời, các tổ chức mới thành lập, các tổ chức như một phần của hệ thống chính quyền hoặc hoàn toàn do một nhóm người dân lập ra[11]. Ngày nay, các tổ chức xã hội của cộng đồng nông thôn nước ta khá đa dạng như Tổ chức dòng họ, hội nghề nghiệp, hội cựu chiến binh, hội phụ nữ, hội nông dân, các nhóm tôn giáo và tín ngưỡng…Với Phật giáo, đó là vai trò gắn kết của Tăng Ni và Phật tử để cùng tham gia hỗ trợ địa phương mỗi khi phát sinh vấn đề của cộng đồng cần giải quyết.
Những năm qua, Phật giáo Việt Nam đóng góp rất nhiều vào cho xã hội nông thôn nước ta, chủ yếu bằng hình thức từ thiện xã hội. Quả thật là khó có thể tổng kết hết những họat động từ thiện vì cộng đồng của Phật giáo cả nước. Nhưng bằng những hành động thiết thực hướng về mọi miền nông thôn Việt Nam của giới Tăng Ni, Phật tử như xây cầu, làm đường ở địa bàn vùng sâu vùng xa, trao nhà tình nghĩa và tình thương cho các đối tượng xã hội, cấp học bổng cho học sinh gặp hoàn cảnh khó khăn đến trường, khám và cấp phát thuốc miễn phí cho bà con nghèo, thường xuyên ủng hộ người dân ở vùng bị bão lũ, thiên tai tàn phá... đã cho thấy mối quan tâm của Phật giáo trong việc chăm lo đời sống của người nông dân Việt Nam. Đây còn là một minh chứng cho thấy tính nhập thế của Phật giáo, thông qua hình thức từ thiện xã hội là chủ yếu. Đặc biệt, trong những họat động này, Phật giáo đã kết nối với nhiều tổ chức, cá nhân tham gia ủng hộ, tạo nên tính liên kết xã hội rộng rãi. Ý nghĩa của điều này là khơi dậy lòng nhân ái, phát huy giá trị nhân bản, hình thành lối sống cao đẹp trong nhiều tầng lớp xã hội khác nhau.
Trong hoàn cảnh hiện nay, một bộ phận người dân nông thôn nước ta chưa có nhiều cơ hội tiếp cận được dịch vụ xã hội[12], trong đó giáo dục và y tế là điển hình, thường là do nhà nước đảm nhiệm. Đây còn hai tiêu chí căn bản để đánh giá chỉ số phát triển con người (HDI). Vì thế, những họat động hỗ trợ của Phật giáo Việt Nam đến những đối tượng nghèo ở nông thôn, tạo cơ hội cho họ được thụ hưởng miễn phí dịch vụ giáo dục và y tế, có ý nghĩa rất lớn trong việc giúp người nghèo nâng cao đời sống và tìm kiếm cơ hội vươn lên. Trong nhiều năm qua, ở huyện Ba Tri - một địa phương còn khó khăn của tỉnh Bến Tre, Đại đức Thích Thiện Sanh (Chùa An Phước, Xã An Bình Tây), với sự đóng góp của các mạnh thường quân, đã hỗ trợ tiền bạc, nhận nuôi miễn phí học sinh nghèo, đặc biệt sẵn sàng chu cấp khi các em đến với giảng đường đại học. Từ năm 1996 đến nay, nhà sư đã nuôi dưỡng hơn 100 em sinh viên có hòan cảnh khó khăn và phần lớn đều tốt nghiệp cao đẳng, đại học, tìm được việc làm ổn định. Hiện tại, Đại đức Thích Thiện Sanh xây dựng nhiều ký túc xá ở Vĩnh Long, Thành phố Cần Thơ và Thành phố Hồ Chí Minh làm nơi trú ngụ cho hàng trăm sinh viên nghèo của huyện và chu cấp tòan bộ sinh họat phí, học phí để các em có thể an tâm đến giảng đường mỗi ngày[13]. Có thể xem đây là một tấm gương điển hình của giới Phật giáo Việt Nam trong việc hỗ trợ giáo dục cho người nghèo ở nông thôn hiện nay. Điều này mang ý nghĩa khá thiết thực, bởi việc trang bị học vấn là nền tảng để thoát nghèo hiệu quả nhất. Phòng khám đa khoa từ thiện Long Bửu (Chùa Long Bửu, Xã An Phú, Huyện Thuận An, Tỉnh Bình Dương) do Tỳ kheo ni-bác sĩ Thích Nữ Liên Thanh phụ trách là mô hình tiêu biểu về việc cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho người nghèo hiện nay. Sau khi tốt nghiệp bác sĩ tại Trường Đại học Y khoa Tp.HCM (năm 1997),với lòng từ bi và tâm nguyện giúp đỡ cho những mảnh đời nghèo khó, sư cô về trụ trì Chùa Long Bửu (năm 1999) và bắt tay khởi công xây dựng công trình Phòng khám Đa khoa Từ thiện Long Bửu. Trong giai đoạn từ năm 2002 - 2009, Phòng khám Đa khoa Từ thiện Long Bửu đã khám và phát thuốc miễn phí cho 200.000 bệnh nhân nghèo không chỉ trong tỉnh Bình Dương mà còn ở nhiều tỉnh, thành khác. Trong vòng năm năm qua, Phòng khám Đa khoa Từ thiện Long Bửu đã khám, điều trị, cấp thuốc miễn phí cho nhiều đối tượng xã hội, tặng trang thiết bị cho các cơ sở y tế ở các địa phương nghèo với tổng trị giá trên 8,5 tỉ đồng. Những hoạt động của phòng khám mang một ý nghĩa lớn đối với xã hội, góp phần chăm lo sức khỏe, giảm thiểu bệnh tật và nỗi đau buồn cho những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn ở địa phương. Mặt khác, phòng khám đã tạo được một nguồn vốn của mình khá vững chắc với sự ủng hộ thường xuyên của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước để ngày một lớn mạnh và phát triển[14].Ngòai ra, ở địa bàn nông thôn, Phật giáo còn quan tâm, chăm sóc những đối tượng xã hội cần được giúp đỡ, cụ thể ở đây là trẻ mồ côi, lang thang và người già neo đơn, không nơi nương tựa. Điều này đã góp phần giảm gánh nặng cho cộng đồng, giúp họ giảm thiểu những phiền muộn, lo âu, tránh nguy cơ bị gạt ra lề xã hội và tạo cơ hội hòa nhập lại cuộc sống. Ở Kiên Giang, Trung tâm từ thiện xã hội Phật Quang (xã Mỹ Lâm, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang), do Đại đức Thích Minh Nhẫn thành lập năm 2002, là một địa chỉ nuôi dạy trẻ mồ côi, lang thang được nhiều người biết đến. Hiện nay, cơ sở nhận nuôi dưỡng và giáo dục 120 em trong điều kiện học tập, sinh họat rất tốt cùng sự giáo dục tận tình của các thầy cô giáo tại đây. Không chỉ học kiến thức văn hóa, các em còn được dạy về kĩ năng sống, học nghề may gia công... để sau trở thành những công dân tốt cho xã hội[15]. Còn ở Trà Vinh, cách đây 6 năm, Ni trưởng Thích Nữ Bửu Lý- trụ trì Chùa Liên Bửu (Xã Hòa Lợi, Huyện Châu Thành) đã thành lập nhà dưỡng lão trong khuôn viên chùa. Đến nay, nhà dưỡng lão có khỏang 40 cụ tá túc, phần lớn trong số họ trong hòan cảnh cô đơn, nghèo và bị con cái bỏ rơi. Nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu là do Phật tử và các doanh nghiệp trong và ngòai tỉnh ủng hộ. Ở chùa, các cụ được chăm sóc sức khỏe thật chu đáo, bác sĩ duy trì việc khám bệnh 3 ngày/tuần. Ngòai ra, hàng tháng, chùa còn tổ chức giảng pháp và khóa lễ sám hối nhằm giúp các cụ hiểu được lẽ vô thường, tập buông xả để được an vui trong buổi xế chiều của đời người[16]. Qua đây, có thể nói rằng, do gắn bó và thấu cảm trước những vấn đề của cộng đồng, các vị Tăng Ni này đã không ngại dấn thân cưu mang những mảnh đời bất hạnh. Đồng thời, theo quan niệm của nhà Phật, đây là tinh thần khế lý, khế cơ, tức tùy duyên hóa độ, hoằng pháp đến chúng sinh. Những mô hình ở trên cho thấy các họat động vì cộng đồng của Phật giáo đã bắt đầu đi vào chiều sâu, không đơn thuần chỉ là họat động từ thiện một ngày một bữa, được xã hội hoan nghênh, đánh giá cao và đóng góp vào việc mở rộng mạng lưới an sinh, phúc lợi xã hội ở nông thôn nước ta trong bối cảnh hiện tại.
- 3. Kiến nghị
Một điều cần thừa nhận, ở phương diện vĩ mô, những hoạt động từ thiện xã hội mang tính chuyên nghiệp và lâu dài như thế của Phật giáo Việt Nam không nhiều và chưa đáp ứng với nhu cầu thực tế, trong đó có khu vực nông thôn nước ta. Gần đây, với tư cách là Phó ban Từ thiện-xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng Thích Như Niệm đã nhìn nhận các họat động từ thiện xã hội của giới Phật giáo cả nước còn manh mún và bị động. Đặc biệt, họat động này chưa hướng đến việc trang bị “cần câu” cho người nghèo để họ tự vươn lên thoát khỏi khó khăn, thiếu nhân lực có nghiệp vụ chuyên môn và phần nhiều là do tấm lòng, chưa phải là những dự án cụ thể mang tính khoa học, bài bản, mang ý nghĩa xã hội thiết thực[17]. Vì vậy, trước tình hình này, cùng với những yêu cầu cấp bách của xã hội nông thôn Việt Nam đặt ra, Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần quan tâm đến một số giải pháp cụ thể như sau:
- Thứ nhất, để Phật giáo Việt Nam tham gia vào giải quyết hữu hiệu các vấn đề xã hội nông thôn hiện nay thì nhất thiết phải áp dụng kiến thức và kỹ năng của ngành Công tác xã hội (Social wokrs)[18], đặc biệt là lĩnh vực phát triển cộng đồng. Phát triển cộng đồng là tổng thể những quá trình làm cho cộng đồng biến dạng và có thể dẫn tới những thay đổi về chất. Những biến dạng và đổi thay về chất nào cũng phải đảm bảo những yêu cầu phát triển chung của xã hội, tức là phải đảm bảo sự bền vững của cộng đồng, sự công bằng xã hội cho các nhóm xã hội vốn có những lợi ích riêng, hướng tới xây dựng năng lực tự tổ chức, tự quản lý các vấn đề của cộng đồng trên cơ sở hội nhập được các nguồn lực bên trong và bên ngòai, đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội[19]. Còn cụ thể hơn nữa, đó là việc giúp đỡ các nhóm thiệt thòi có thể cải thiện điều kiện sống và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản như việc làm, nhà ở, có khả năng trả các phí dịch vụ xã hội cơ bản như học hành, chữa bệnh, phát triển cơ sở hạ tầng, tăng quyền lực của người dân trong các quyết định của cộng đồng và cuối cùng là việc giảm nghèo, giảm thất nghiệp, quyền con người và công bằng xã hội được củng cố. Mục đích của phát triển cộng đồng là nhắm đến việc thức tỉnh cộng đồng và tăng năng lực cho họ để cuối cùng họ có thể tự lực giải quyết vấn đề của cộng đồng mỗi khi phát sinh.Áp dụng phát triển cộng đồng vào giải quyết các vấn đề xã hội nông thôn nước ta vừa cấp bách vừa có tính khoa học, đem lại hiệu quả rất lớn. Vì vậy, Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên phối hợp với một số trường đại học có đào tạo ngành Công tác xã hội[20] để đào tạo nguồn nhân lực của mình trong lĩnh vực từ thiện xã hội, đặc biệt ở khu vực nông thôn, chú trọng trang bị kĩ năng và kiến thức về phát triển cộng đồng. Được biết, Ban Từ thiện-xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã phối hợp với Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM đã mở lớp cấp chứng chỉ Công tác xã hội, nhưng vẫn còn quá ít so với nhu cầu hiện tại. Với thực tế các vấn đề xã hội nông thôn đương đại, thông qua nguồn nhân lực khá đông đảo và có kiến thức bài bản, nhiều kinh nghiệm, chắc chắn Phật giáo Việt Nam sẽ tạo được những thành tựu đột phá trong họat động từ thiện xã hội ở nông thôn nước ta. Đây là tiền đề vững chắc góp phần đưa Phật giáo gắn bó chặt chẽ với xã hội nông thôn Việt Nam đương đại. Và, tinh thần hộ quốc an dân của Phật giáo Việt Nam sẽ được kế thừa và phát huy hơn nữa trong lòng dân tộc.
- Thứ hai, trong thời gian tới, những họat động giúp đỡ người dân nông thôn của Phật giáo Việt Nam cần được tổ chức theo mô hình chuyên nghiệp, nhất là vai trò tiên phong của các dự án phát triển cộng đồng sẽ cải thiện cuộc sống của họ rất nhiều với tính bền vững và hiệu quả, góp phần hạn chế tình hình manh mún, tự phát như đã đề cập. Vì vậy, Ban Từ thiện xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên đề xuất thành lập một số trung tâm chuyên xây dựng và điều phối thực hiện một số dự án hướng đến việc đào tạo nghề, cung cấp nước sạch, hỗ trợ giáo dục, chăm sóc sức khỏe, cải thiện môi trường,.... để góp phần vào việc giải quyết các vấn đề xã hội đang nổi cộm ở nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay. Đồng thời, mục tiêu của các dự án phải luôn bám sát tình hình thực tiễn vấn đề xã hội ở nông thôn và chú trọng thực tế ở từng địa phương khác nhau, đề cao tính tự lực ở bản thân từng cộng đồng, khắc phục tâm lý dựa dẫm và chờ đợi sự giúp đỡ từ bên ngoài. Trước năm 1975, ở miền Nam Việt Nam, Trường Thanh niên phụng sự xã hội của Phật giáo thời đó đã đào tạo hàng ngàn thanh niên, trong đó có nhiều vị Tăng Ni, đi về các miền quê để giúp đỡ người dân tái thiết lại cuộc sống do chiến tranh tàn phá. Họ hỗ trợ người dân về giáo dục, y tế, việc làm, tổ chức cuộc sống theo tinh thần những người dân phải tự mình bắt đầu lo cho cuộc sống của họ[21].
- Thứ ba, Ban Từ thiện xã hội Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên đánh giá và tổng kết các mô hình cơ sở xã hội ở nông thôn nước ta. Việc làm này nhằm thấy được điểm mạnh, yếu cùng những khó khăn của họ để có kế họach hỗ trợ và chia sẻ kinh nghiệm trong họat động, trang bị các kỹ năng và kiến thức cần thiết. Đồng thời, nên giới thiệu, tuyên dương các cá nhân, tổ chức điển hình để giới thiệu cho giới Phật giáo cả nước nói riêng và cộng đồng xã hội nói chung nhằm khơi dậy tấm lòng nhân ái, cùng kết nối chia sẻ lẫn nhau. Ở đây, vai trò của Tăng Ni, Phật tử ở từng ngôi chùa trên mọi miền quê của đất nước rất lớn. Hơn ai hết, chính họ là người thấu hiểu rõ nhất những khó khăn, nhọc nhằn của người dân địa phương. Vì vậy, cách làm từ thiện-xã hội mang tính bền vững, hiệu quả và lâu dài không phải thỉnh thoảng đến dịp hay lúc địa phương gặp vấn đề mới tổ chức những chuyến đi từ thiện mà là thông qua vai trò của tăng, ni ở địa phương để thực hiện nhiệm vụ này một cách thường xuyên bằng những kế hoạch phù hợp với nhu cầu cần hỗ trợ của người dân địa phương. Mặt khác, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến các vị Tăng, Ni trẻ, có tâm huyết với hoạt động từ thiện, có kiến thức hiểu biết về xã hội. Đây là nguồn lực quan trọng để thực hiện các hoạt động xã hội giúp ích cho cộng đồng. Giáo hội Phật giáo Việt Nam nên giúp họ có điều kiện gắn bó với địa phương và trong quá trình hòa nhập cùng đời sống người dân, họ là người sẽ phát hiện ra nhu cầu cần thiết mà người dân sở tại cần giúp đỡ. Từ đó, các hoạt động xã hội của các vị Tăng Ni này sẽ hướng đến hỗ trợ cộng đồng một cách lâu dài, hệ thống và mang tính hiệu quả cao. Điều này sẽ thúc đầy các hoạt động từ thiện-xã hội của Phật giáo Việt Nam mang tính linh hoạt, sáng tạo, rộng rãi và nhiều hiệu quả xã hội thiết thực[22].
Phật giáo có vai trò rất lớn cho sự nghiệp phát triển nông thôn nước ta ngày nay. Trước nhiều vấn đề xã hội nổi cộm, với tinh thần từ bi của người con Phật, giới Phật giáo cả nước đã có nhiều đóng góp, giúp đỡ người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để họ vượt qua nhiều khó khăn trước mắt. Điều này đã được xã hội ghi nhận. Tuy nhiên, để tăng cường tính hiệu quả hơn nữa, những họat động giúp đỡ bà con nông dân của Phật giáo cần phối hợp với kiến thức và kỹ năng của ngành công tác xã hội, đặc biệt là phát triển cộng đồng. Phật giáo Việt Nam, với đặc trưng mang tính nhập thế, sẽ là niềm động viên để chia sẻ với những khó khăn người nông dân khi họ đối đầu với bệnh tật, ô nhiễm môi trường sống, mất việc làm, bỏ quê xa xứ, nghèo đói,....cả về vật chất lẫn tinh thần, nhất là ý thức tự vươn lên thoát nghèo, tin tưởng vào năng lực nơi bản thân. Như vậy, đạo Phật sẽ tiếp tục tỏa sáng trong lòng dân tộc trên bước đường hội nhập và phát triển hiện nay. Hy vọng ngôi chùa Việt mãi là chỗ dựa, nơi chia sẻ những mất mát đau thương, nơi thắp lên niềm hy vọng về cuộc sống và bảo tồn những giá trị tâm linh truyền thống của người nông dân lam lũ, nhọc nhằn bao đời nay./.
Một số kinh nghiệm thực tế của Phật giáo Lạng Sơn
trong việc truyền bá Phật pháp đến vùng sâu
vùng xa, vùng bà con dân tộc thiểu số
Đại đức Thích Quảng Truyền
Ủy viên HĐTS - Ủy viên TT Ban Hoằng pháp TW
Phó Ban Thường trực Phật giáo tỉnh Lạng Sơn
Lạng Sơn, tỉnh phên dậu nơi địa đầu Tổ Quốc với những đa dạng văn hóa tín ngưỡng. Hơn 80% dân số trong tỉnh là bà con các dân tộc như Tày, Nùng, Dao v.v... Trong đó, bà con dân tộc Kinh chỉ chiếm thiểu số trong cộng đồng.
Với một nền văn hóa đa dạng mang màu sắc riêng của mỗi dân tộc đã tạo cho Lạng Sơn những nét văn hóa riêng với nhiều phong tục tín ngưỡng đẹp. Tuy nhiên bên cạnh đó, cũng còn không ít những hủ tục lạc hậu, mê tín đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống của bà con. Đặc biệt, lợi dụng sự thật thà, chất phát của bà con, đã có một số kẻ xấu đến truyền đạo trái phép, gây chia rẽ trong cộng đồng, làm mất an ninh trật tự...
Với truyền thống 2000 năm "Hộ quốc - An Dân" và những giáo lý thánh thiện, gần gũi với đời sống thường ngày của Đạo Phật, việc truyền bá Phật pháp đến với bà con các vùng sâu, vùng xa, vùng bà con dân tộc ít người là một việc làm cấp thiết, giúp cho đời sống tinh thần của bà con được an ổn, dần bỏ đi những hủ tục lạc hậu, tránh bị kẻ xấu lợi dụng, đảm bảo được an ninh chính trị, tạo sự đoàn kết trong cộng đồng... Để làm được việc này là cả một quá trình bền bỉ, khắc phục mọi khó khăn với một tấm lòng nhiệt thành vì Đạo Pháp, không ngại gian khổ... Trong những năm qua, Phật giáo tỉnh Lạng Sơn đã từng bước đem ánh sáng Phật pháp đến với bà con và bước đầu đã gặt hái được những thành tựu.
Với một số kinh nghiệm thực tế trong quá trình truyền bá Phật pháp đến với bà con vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, chúng tôi xin trình bày ra đây nhằm chia sẻ kinh nghiệm ngõ hầu tìm ra những giải pháp hay hơn nữa để làm cho ánh sáng Phật pháp được lan tỏa đến mọi vùng miền của Tổ quốc, giúp cho bà con các dân tộc anh em, cùng chung sống trong ngôi nhà đoàn kết hòa hợp của Phật giáo Việt Nam, xây dựng đất nước ta dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trước hết, chúng ta cần đánh giá những thực tế của đời sống bà con như bản sắc văn hóa, đời sống kinh tế, mặt bằng dân trí v.v... Đặc biệt là quan điểm về Phật giáo của lãnh đạo địa phương là tối quan trọng.
Đa số bà con đều không biết Phật pháp là gì, cuộc sống của bà con đơn giản chỉ là sự tần tảo trong cuộc sống còn quá nhiều thiếu thốn, trình độ dân trí chưa cao. Đời sống tâm linh của bà con ở nhiều nơi bị thần thánh hóa với những đức tin quá nặng màu sắc mê tín, dị đoan. Bà con thường rất thật thà, chất phác và nếu đã tin ai thì sẽ tin đến cùng và ngược lại.
Bên cạnh đó, với quan điểm và sự nhìn nhận về Phật giáo của hàng ngũ lãnh đạo ở địa phương còn hết sức bỡ ngỡ vì từ trước tới nay, họ chưa từng tiếp xúc với Phật giáo bao giờ.
Căn cứ vào những đặc thù nêu trên, người đi hoằng pháp phải là người hiểu rõ về phong tục tập quán, ngôn ngữ và nét văn hóa riêng của mỗi dân tộc, từ đó tạo nên một hình ảnh và đức tin cho bà con qua việc thường xuyên gần gũi với bà con, giúp đỡ về vật chất, tinh thần, đi sâu đi sát với cuộc sống thường ngày của bà con... Kinh nghiệm thực tế cho thấy, khi đã được bà con tin yêu, có một hình ảnh tốt trong lòng bà con, lúc đó chúng ta mới dần dần hướng đạo cho bà con thì chắc chắn sẽ thu được kết quả tốt.
Từ một địa phương trắng về Phật giáo. Năm 2007 Phật giáo tỉnh Lạng Sơn mới được thành lập.
Khi ấy, nói về Phật giáo là một điều gì đó còn rất xa lạ. Từ hàng ngũ một số lãnh đạo địa phương cho đến nhân dân, họ chỉ hiểu một cách đơn giản về Đạo Phật là cầu cúng, mê tín như những tín ngưỡng khác.
Chuyện gây khó dễ, bị ngộ nhận và chuyện các thầy đi xuống các huyện, xã, thôn, bản để hoằng pháp bị cản trở vv... là chuyện thường xuyên trong thời gian đó.
Thế rồi bằng sự vận dụng khéo léo các thiện xảo phương tiện, sự gần gũi với cuộc sống của bà con, bằng những việc làm cụ thể như thăm hỏi tặng quà các dịp lễ tết, giúp đỡ các gia đình hoạn nạn khó khăn, giúp đỡ các cháu sách vở để đến trường, hàng chục nghìn bộ quần áo, chăn màn được chuyển đến với bà con trong mùa rét, mưa lũ, trên 50 căn nhà Đại đoàn kết được trao tặng cho các hộ nghèo v.v... Và đều đặn hàng tháng, hình ảnh bóng áo vàng của các Sư đến các bản làng tặng gạo cho một số hộ đặc biệt nghèo, người già, người tàn tật không nơi nương tựa là một hình ảnh đẹp có sức thuyết phục và biện chứng cũng như sức lan tỏa lớn nhất cho những gì mà Phật giáo muốn đem lại và cống hiến cho cuộc đời.
Phật giáo tỉnh mua một xe ô tô làm xe tang để phục vụ miễn phí cho bà con khi qua đời, vận động bà con bỏ đi hủ tục làm nhà đòn, nhà táng đưa ma gây tốn kém. Vận động bà con bỏ đi hủ tục đốt đuốc, rắc tiền vàng khi đưa ma. Đặc biệt, vận động bà con bỏ đi hủ tục để ma lâu ngày mới chôn.
Mỗi năm 01 lần vào ngày 13/Giêng/Âm lịch. Phật giáo tỉnh tổ chức mừng thọ cho các Phật tử cao tuổi. Qua đó, giáo dục các thế hệ con cháu biết hiếu thảo với ông bà cha mẹ và từ 05 năm nay, ngày 13/Giêng hàng năm đã thực sự trở thành ngày hội cho con cháu trong toàn tỉnh tôn vinh ông bà cha mẹ của mình. Ngày lễ mừng thọ này đã được sách Kỷ lục Việt Nam xác lập kỷ lục.
Đối với các cháu Thanh, Thiếu niên, nhi đồng là Phật tử. Phật giáo tỉnh có cơ chế khuyến học khuyến tài. Hàng năm, đều tổ chức phát qua khuyến học cho các cháu có thành tích học tập và các cháu có hoàn cảnh khó khăn vươn lên học tập. Mỗi kỳ hè về, các cháu đều được Phật giáo tỉnh tổ chức các khóa tu để các cháu có điều kiện sinh hoạt, vui chơi. Qua đó, định hướng nhân cách, giúp các cháu có đời sống tinh thần lành mạnh.
Có một sáng kiến của Phật giáo tỉnh Lạng Sơn đối với các cháu Thanh, Thiếu niên, nhi đồng Phật tử, nhằm giúp các em có sự gắn kết giữa Đạo với đời như sau:
Phật giáo tỉnh Lạng Sơn có hồ sơ lưu trữ thông tin cá nhân của từng cháu là Thanh, Thiếu niên, nhi đồng Phật tử khi các cháu Quy y.
Hoàn cảnh, ngày tháng năm sinh của từng cháu được lưu trữ đầy đủ. Trước tiên, cứ đến ngày sinh nhật, các cháu được Phật giáo tỉnh gửi tặng quà sinh nhật (quà sinh nhật là bưu thiếp chúc mừng, đĩa CD Phật giáo có nội dung giáo dục vv...). Bên cạnh đó, hoàn cảnh của các cháu được Ban Hướng dẫn Phật tử tỉnh cập nhật thường xuyên, cháu nào cần chia sẻ, giúp đỡ sẽ được Phật giáo tỉnh kịp thời đến với các cháu. Mô hình này đã thực sự phát huy hiệu quả, chứng minh qua việc các cháu đến với Đạo Phật ngày càng đông và tại chùa Thành (trụ sở Phật giáo tỉnh Lạng Sơn) thường xuyên tổ chức các lễ Hằng Thuận cho các cháu đến tuổi trưởng thành kết hôn.
Tuổi trẻ là tương lai của đất nước và cũng là tương lai của Phật pháp. Có một kinh nghiệm thực tế nữa mà Phật giáo tỉnh Lạng Sơn đã làm và có kết quả rất khả quan là: xây dựng và tài trợ Quỹ khuyến học với các trường Trung học phổ thông, Trung học cơ sở, trường mầm non trên địa bàn. Việc làm này được Nhà nước ta và các cấp chính quyền, đoàn thể hết sức ủng hộ và khuyến khích. Phật giáo tỉnh Lạng Sơn đã và đang làm tốt Phật sự này qua việc phối hợp với các nhà trường, trao các xuất học bổng toàn phần cho các cháu có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập. Và thật hạnh phúc khi thấy hình bóng Quý Thầy, các em đều rất trân trọng và yêu quý.
Các chương trình thuyết giảng Phật pháp được duy trì, các khóa tu học thường xuyên được tổ chức, các hoạt động xã hội đều được Phật giáo tỉnh tham gia tích cực vv... Đặc biệt, thông qua các hình thức tuyên truyền hiện đại như: Intenet, đĩa CD, Đài Phát thanh truyền hình địa phương, Phật giáo tỉnh đã khéo lồng ghép để hình ảnh và những đóng góp tốt đẹp của Phật giáo đến với công chúng. Qua đó tạo dựng lòng tin, sự nhìn nhận về một tôn giáo đã có truyền thống lâu đời gắn bó và đồng hành cùng dân tộc.
Năm 2007, cả tỉnh chỉ có trên 300 Phật tử Quy y Tam Bảo và 100% đều là người Kinh. Cả tỉnh có 11 huyện, Thị trấn và 01 Thành phố trực thuộc tỉnh thì 11 huyện, Thị trấn không có Phật giáo. Sau 05 năm tích cực hoạt động của Phật giáo tỉnh Lạng Sơn trên mọi lĩnh vực, hiện nay con số Phật tử đã có trên 10.000 người và đặc biệt trong số này, các em, các cháu Thanh, thiếu niên, nhi đồng là Phật tử chiếm 1/3, trong đó có rất đông là bà con các dân tộc như Tày, Nùng, Dao vv... Đã có 9/11 huyện, Thị trấn có tổ chức Phật giáo.
Đại lễ Phật đản Phật lịch 2555 có hàng chục ngàn người tham dự với tuần lễ văn hóa Phật giáo đặc sắc qua nhiều chương trình ấn tượng.
Đại lễ Vu Lan hàng năm thu hút cả ngàn người tham dự gồm cả các dân tộc anh em.
Phật giáo tỉnh Lạng Sơn khi thành lập chỉ có 02 vị sư, sau 05 năm phát triển nay đã có 06 vị.
Từ chỗ còn xa lạ và đánh đồng về quan điểm. Sau một thời gian ngắn đã có kết quả rõ ràng.
Tất cả các mặt liên quan đến chính trị xã hội của địa phương đều có sự hiện diện của Phật giáo tỉnh. Cụ thể là: tham gia HĐND tỉnh Lạng Sơn 01 vị. Tham gia MTTQVN tỉnh 01 vị. Các đoàn thể như: Hội LHPN, Hội LHTN, Hội chữ thập đỏ tỉnh Lạng Sơn đều có các vị trong Ban Thường trực Phật giáo tỉnh được mời tham gia và các huyện, Thành phố, xã phường, Thị trấn cũng đều có sự tham gia là Ủy viên Ủy ban MTTQVN ở các địa phương, với sự hiện diện của các Phật tử.
Với sự tinh tiến không mệt mỏi của tập thể Chư tăng, Phật tử trong tỉnh, được sự quan tâm sâu sắc của Trung ương GHPGVN, có thể những thành tựu Phật sự nêu trên chưa nhiều nhưng với một đơn vị Phật giáo mới được thành lập chưa được 05 năm và có đặc thù miền núi, biên cương thì những kết quả nêu trên là nguồn cổ vũ to lớn cho những Phật sự tiếp theo của Phật giáo tỉnh Lạng Sơn trong thời gian tới.
Với một số kinh nghiệm thực tế của địa phương trong việc đưa Phật pháp đến với vùng sâu vùng xa của Tổ quốc. Chúng tôi xin trình bày trong dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập GHPGVN ngõ hầu góp một bông hoa trong bó hoa tươi thắm dâng lên cúng dàng Đức Từ Phụ Thế Tôn và Chư Tổ tiền bối trong sự nghiệp hoằng truyền chính pháp.
Kính chúc Phật Pháp trường minh, Quốc gia vĩnh thịnh, Chư Tôn Đức và Quý Liệt vị thân tâm thường lạc, phúc trí nhị nghiêm, chúng sinh dị độ./.
NHỮNG KHÓ KHĂN THÁCH THỨC
CỦA NGÀNH HOẰNG PHÁP TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Ban Hoằng pháp THPG Tp. Hà Nội
Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, Thành hội Phật giáo Hà Nội đã hòa mình vào dòng chảy lịch sử, cùng chung xây dựng ngôi nhà chung GHPGVN, và đã có bước chuyển mình với sự tiến bộ vượt bậc, đặc biệt là trên phương diện hoằng pháp. Hoằng pháp là nhiệm vụ vô cùng quan trọng của người con Phật, điều ấy đã được đức Phật chỉ dạy cho những vị đệ tử đầu tiên của Ngài, ngay sau khi họ đã được nghe và lãnh hội được giáo pháp giải thoát. Với những người đệ tử đầu tiên, đức Phật đã dạy mỗi người nên đi một hướng, để đem giáo pháp an lạc ban bố cho chúng sinh, hãy lên đường hoằng pháp, vì sự an lạc cho chư thiên và loài người. Có thể nói hoằng pháp là một ngành đi đầu trong tất cả các ngành công tác Phật sự khác, bởi nó mang tính chất đặc thù “tác Như Lai sứ, hành Như Lai sự”, là bản hoài của người xuất gia kế thừa đạo nghiệp của chư Phật, chư Tổ.
Trên tinh thần đó, Ban Hoằng pháp Thành hội Phật giáo Hà Nội đã có những phát triển phù hợp và cụ thể cho từng khu vực, tổ chức những đạo tràng tu tập thích hợp với từng tầng lớp đối tượng. Năm 2010 Ban Hoằng pháp đã thành lập được trang web riêng, với hình thức trình bày và nội dung phong phú, mỗi ngày truy cập với số lượng khoảng trên 3000 lượt. Gần đây, đã ra mắt số đầu tiên Nội san Hoằng pháp góp phần đáp ứng không nhỏ nhu cầu tu học và tìm hiểu nghiên cứu Phật pháp cho mọi tầng lớp Phật tử.
Thời gian qua, Ban hoằng pháp PGHN đã triển khai kế hoạch và phương pháp tu tập cho Phật tử trên toàn thành phố, mở các khóa tu ngắn hạn cho thanh thiếu niên Phật tử, thành lập được nhiều đạo tràng tu tập dành cho người lớn tuổi. Bên cạnh đó sự có mặt của các lớp Phật học hàm thụ, lớp giáo lý cơ bản, khóa tu một ngày an lạc,lễ cầu nguyện tư vấn mùa thi…, chương trình “Ánh sáng Phật pháp”, “Về Nguồn”, “Theo bước chân Phật” … thu hút nhiều thanh thiếu niên trẻ tham gia. Những buổi tọa đàm, những hội thi giáo lý cho đến những vần thơ khúc hát, những vở kịch trên sân khấu trong hội diễn văn nghệ của thanh thiếu niên Phật tử, có nội dung lồng ghép giáo lý nhân quả, cách sống mang tính nhân bản cùng nhiều kinh sách băng từ phim ảnh, đĩa giảng pháp của chư Tôn Đức phát hành trên toàn địa bàn thành phố đã giúp cho kiến thức Phật học của người Phật tử Thủ đô được nâng cao rất nhiều, hướng con người đến dần với chân thiện mỹ. Đây là những kết quả Phật sự đáng khích lệ cho ngành hoằng pháp PGHN.
Có thể nói công tác hoằng pháp của PGHN có nhiều bước trưởng thành, kế hoạch phát triển ổn định chặt chẽ, nội dung và hình thức phong phú đa dạng. Thế nhưng bên cạnh những thành tựu Phật sự đó thì ngành hoằng pháp còn nhiều khó khăn thách thức trong thời đại hiện nay cả về tự thân và hoàn cảnh.
Nói về khó khăn thì thời đại nào cũng có những khó khăn nhất định. Tuy nhiên khó khăn cơ bản của Phật giáo nói chung, của ngành hoằng pháp nói riêng, trước hết phải nói đến yếu tố chủ quan xuất phát từ sự giới hạn trong công phu tu tập của hàng tứ chúng. Những khó khăn như vậy chỉ có thể khắc phục bởi ý thức giác ngộ nơi mỗi người và sự nỗ lực hành trì nơi mỗi bản thân.
Thứ hai, tinh thần nhập thế, tùy thuận và thích nghi của Phật giáo buộc chúng ta phải hòa nhập vào đời sống xã hội trong hoàn cảnh đất nước mở của hội nhập thế giới. Từ đó đang gặp nhiều vấn nạn từ mặt trái của nền kinh tế thị trường. Nhất là đối với lớp Tăng Ni trẻ hiện nay rất dễ ảnh hưởng và bị tiêm nhiễm từ những thông tin đa chiều, những sản phẩm độc hại bởi mạng internet và các sách báo thế gian. Họ có lối sống thiên về thực dụng, nhiều tiêu cực nảy sinh trong cuộc sống tu hành, điều này dẫn đến sự xuống cấp đạo đức trong một số Tăng Ni không chịu rèn luyện tu dưỡng, thiếu sự quan tâm của nghiệp sư và Giáo hội. Trong hoàn cảnh như vậy một bộ phận Tăng Ni nếu không quyết tâm nỗ lực tu hành thì đạo đức phẩm hạnh của một bậc xuất gia cũng khó mà toàn vẹn.
Thứ ba, chúng ta đang sống trong thế kỷ 21, thế kỷ văn minh khoa học và cũng là thế kỷ của tâm linh, trong hoàn cảnh xã hội thời hiện đại, khi trình độ dân trí đã được nâng cao, khả năng cảm nhận và nguồn tri thức của quần chúng rất dồi dào phong phú. Do vậy nhu cầu thính pháp của quần chúng Phật tử hiện nay ở một tầng bậc cao, họ không đơn thuần là đến để nghe những bài giảng vốn đã đọc hay đã thông hiểu mà đến để được chia sẻ kinh nghiệm hành trì cũng như nhũng pháp ngữ đậm tính khai mở tuệ giác. Từ đó đòi hỏi người hoằng pháp phải là người thực tu thực học, mỗi lời nói ra là pháp ngữ, chứ không quan tâm nhiều đến kỹ năng nghệ thuật diễn giảng.
Thứ tư, đối với quần chúng Phật tử hiện nay thì tình trạng mê tín vẫn luôn là nỗi trăn trở của nhũng người làm công tác hoằng pháp. Một bộ phận quần chúng nhân dân Phật tử vẫn đặt nặng cúng bái cầu khẩn nhiều hơn là việc tu học chính pháp. Tại một số cơ sở tín ngưỡng tình trạng Phật tử đến xin xăm bói quẻ … vẫn thường diễn ra.
Với tâm nguyện đoàn kết xây dựng và phát triển ngôi nhà chung GHPGVN, Ban hoằng pháp Thành hội Phật giáo Hà Nội xin mạo muội đưa ra một số nhận định trên và đề xuất một số giải pháp sau:
Muốn tháo gỡ những khó khăn thách thức trong sự nghiệp hoằng pháp trước hết chúng ta nên tận dụng tối đa những thuận lợi và cơ hội đang có để phục vụ cho mục đích tu hành hoằng dương chính pháp.
Một là, cần đẩy mạnh tập trung vào việc đào tạo nhân sự tăng tài. Nếu nhìn vào hành trạng tu học của đại bộ phận Tăng Ni trẻ hiện nay, chúng ta sẽ thấy còn nhiều bất cập, cán cân giữa tu và học bị nghiêng về phần học quá nhiều, không phục vụ cho sự nghiệp tu hành của người xuất gia tu theo hạnh Phật, bằng chứng là qua bao nhiêu khóa đào tạo trải qua hai thập niên, thực tế đã có hàng ngàn Tăng Ni sinh ra trường mà vẫn chưa thấy xuất hiện một đội ngũ tăng tài đứng ra cùng chung lo gánh vác trách nhiệm với Thành hội. Nếu có chăng chỉ lác đác một vài vị có năng lực đặc biệt, có tâm huyết dấn thân phụng sự Phật pháp, nhưng trường hợp này quá hiếm hoi. Từ thực trạng đó, Giáo hội cần phải có một chiến lược đào tạo tăng tài.
Hai là, đối với Tăng Ni trụ trì các chuà cũng cần nhận thức được vai trò hoằng pháp của vị trụ trì, bởi các vị trụ trì là người thường xuyên tiếp cận Phật tử, giải quyết những vấn đề vướng mắc trong đời sống tu học và sinh hoạt của nhân dân Phật tử. Do vậy, vai trò của người trụ trì trở thành trung tâm truyền tải nội dung Phật pháp và vận động Phật tử khi cần thiết. Tuy nhiên trên thực tế, các vị sư trụ trì vẫn chưa ý thức được trách nhiệm cao cả này mà cho rằng công tác hoằng pháp thuộc trách nhiệm của các vị giảng sư, chính vì vậy mà chúng ta đánh mất đi một cơ hội lớn trong công tác hoằng pháp, trong sự nghiệp xây dựng và phát triển ngôi nhà chung Phật giáo Việt Nam. Do vậy cần quan tâm đến việc đào tạo một cách căn bản, đáp ứng nhu cầu cao nhất cho những Tăng Ni chuẩn bị hoặc mới bổ nhiệm trụ trì trong hoàn cảnh hiện nay.
Ba là, vị trí người cư sĩ Phật tử trong thời đại ngày nay đóng góp một vai trò hết sức quan trọng, họ vừa tích cực hộ pháp vừa phấn đấu tu tập, trong khi phải đối diện với muôn vàn vấn đề trong gia đình và xã hội. Như vậy, có thể nói cư sĩ Phật tử đã đóng góp một vai trò then chốt trong sự nghiệp hoằng pháp, thông qua các hoạt động từ thiện xã hội, nhất là họ có chuyên môn cao trong nhiều lĩnh vực và nhiều phương diện … Thực tế cho thấy họ là một bộ phận quan trọng và không thể tách rời của ngành hoằng pháp. Do vậy, Giáo hội cần quan tâm thích đáng đến đội ngũ cư sĩ tại gia để có chính sách bồi dưỡng nhân tài và cơ chế thích hợp, giúp cho họ tham gia đóng góp nhiều hơn nữa trong sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh.
Bốn là, Giáo hội và Thành hội nên nhìn nhận thực trạng Phật giáo thời đại ngày nay một cách khách quan, trung thực. Qua đó mạnh dạn đổi mới hòa cùng sự đổi mới của đất nước để khôi phục lại truyền thống tu tập như thời Lý – Trần và tái tạo nền đạo đức nhân bản vốn là tài sản thiêng liêng của Chư tổ để lại.
Tóm lại, nếu quyết tâm thực hiện một cách đầy đủ đồng bộ những giải pháp nêu trên, có thể sẽ mang lại lợi ích rất lớn cho đạo pháp và dân tộc, công tác hoằng pháp sẽ hanh thông, những thách thức khó khăn sẽ thành cơ hội và điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp hoằng dương chính pháp lợi lạc quần sinh./.
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG SỰ TRUYỀN BÁ PGVN
TRONG THẾ KỶ 21 VÀ NHỮNG THẾ KỶ TIẾP THEO
Ni trưởng Thích Nữ Mỹ Đức
Ban Văn hóa THPG Ninh Thuận
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính ngưỡng bái bạch chư Tôn Giáo Phẩm HĐCM, HĐTS GHPGVN,
Kính ngưỡng bái bạch chư Tôn Thiền Đức Tăng Ni,
Kính thưa quý vị quan khách,
Kính thưa quý đại biểu.
Hôm nay, ngày 24-12-2011, tại nơi đây diễn ra HỘI THẢO kỷ niệm 30 năm thành lập GHPGVN. Trong không khí trang nghiêm, ngát hương giải thoát, cho phép chúng con đại diện Ban Văn hóa Phật giáo tỉnh Ninh Thuận cung kính gởi đến chư Tôn Giáo Phẩm, Chư Tôn đức Tăng Ni lời vấn an thánh đức. Kính gởi đến quý vị khách quý, quý đại biểu lời thăm hỏi sức khỏe và lời cầu chúc an khang thịnh vượng. Kính chúc Hội thảo thành công viên mãn.
Kính bạch Chư Tôn đức,
Kính thưa quý Liệt vị.
Được sự cho phép của ban tổ chức, chúng con xin đại diện Ban Văn Hóa Phật giáo tỉnh Ninh Thuận, xin phép trình bày tham luận: “Công nghệ thông tin trong sự truyền bá Phật giáo Việt Nam trong thế kỷ 21 và những thế kỷ tiếp theo”.
Kính bạch Chư Tôn đức,
Kính thưa quý Liệt vị,
“Trong lịch sử truyền bá các tôn giáo trên thế giới, chúng ta có thể chia làm hai nhóm chính:
+ Nhóm dùng phương tiện bạo lực, chiến tranh tôn giáo, sức mạnh quyền uy, sức mạnh kinh tế, tiền bạc v.v… (phương tiện cứng). Các tôn giáo xuất phát từ Trung Đông thường sử dụng phương tiên này. Nhiều tôn giáo có lực lương vũ trang riêng phục vụ cho việc truyền đạo.
Thực tế, phương tiện này đã mang lại hiệu quả cho việc truyền đạo. Phật giáo bị đẩy ra khỏi tiểu lục địa Ấn Độ cũng vì một tôn giáo khác đã dùng phương tiện này. Ngày nay phương tiện này có hạn chế hơn, nhưng cũng còn một số ít tôn giáo sử dụng và xác định đây là phương tiện chính của tôn giáo họ.
Phật giáo không hề chủ trương sử dụng phương tiện này và chưa bao giờ dùng phương tiện này để truyền đạo.
+ Nhóm dùng tư tưởng, văn hóa, học thuật, nghệ thuật… là phương tiện truyền thông để truyền đạo (phương tiện mềm). Trong hơn 2.500 năm qua Phật giáo đã dùng phương tiện này để truyền bá Phật pháp. Vì thế đôi khi Phật giáo bị thiệt thòi nhưng chưa bao giờ có chiến tranh tôn giáo. Phật giáo là “Đạo Hòa Bình”.
Phật giáo đã không hề và không bao giờ sử dụng đến bạo lực, quyền uy, sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế… để truyền đạo. Như vậy chúng ta chỉ có “phương tiện mềm”. Đây là phương tiện duy nhất và là phương tiện sở trường của chúng ta. Nếu không ý thức về điều này, chúng ta sẽ không còn phương tiện nào cả để truyền đạo. Một tôn giáo chỉ thực sự tồn tại khi nó còn được truyền đạo và truyền thông là công cụ sống còn của Phật giáo. Ưu thế về sự thâm sâu của tư tưởng, về giá trị quan điểm nhân sinh của Phật giáo chỉ phát huy tác dụng khi nó được truyền bá đến với tất cả mọi người, nghĩa là khi triệt để khai thác “phương tiện mềm”.
“Phương tiện mềm”, đó là hoạt động xuất bản, báo chí, diễn giảng… như trước đây chúng ta đã làm và là phát thanh truyền hình, internet, website … những phương tiện chỉ mới phổ biến trong vài chục năm nay. Không kịp thời nắm lấy những công cụ hiện đại và đắc dụng thuộc “phương tiện mềm” này, chúng ta có thể sẽ gặp khó khăn trong việc truyền bá Phật giáo Việt Nam.
I. MỘT SỐ PHƯƠNG TIỆN THÔNG TIN, TRUYỀN BÁ PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRONG NHỮNG THẾ KỶ TRƯỚC CHO ĐẾN NGÀY NAY
1) Kinh Sách - Báo Chí – Phát Thanh – Truyền Hình :
Đây là phương tiện thông dụng, phổ biến được thực hiện từ bấy lâu nay. Ngày nay số lượng các Kinh sách Phật giáo được phát hành khá nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho Phật tử nghiên cứu, học hỏi, tu tập. Các phòng phát hành kinh sách được mở ra khá nhiều và độc giả đến tim mua tương đối đông đúc. Phương tiện này bao giờ cũng cần thiết, không bị lỗi thời về mặt không gian và thời gian. Tuy nhiên, về việc mở phòng thư viện của các tỉnh nói chung và Ninh Thuận nói riêng đang còn hạn chế, chưa phát huy hết tác dụng của nó. Về báo chí Phật giáo cả nước chỉ có: Tuần San và Nguyệt San Giác Ngộ của Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, Tạp Chí Văn hóa Phật giáo của Ban Văn hóa Phật giáo Trung ương, Tạp Chí Nghiên Cứu Phật học Phật giáo của khu vực phái Bắc, tạp chí Phật giáo Nguyên Thủy… Một số tỉnh có phát hành Nội san nhưng chưa phong phú hoặc chỉ có tính cách nội bộ. Còn phát thanh, truyền hình và một số thông tin đại chúng khác như xe loa phát thanh, xe cổ động, áp phích, banner, post card, tem bưu chính… thì hầu như rất hiếm. Chỉ những năm gần đây, khi có lễ lược lớn, đài tuyền hình mới có một số tin tức, phóng sự ngắn. Phật giáo chưa có một đài truyền hình riêng hay ít nhất là một chương trình Phật giáo thường xuyên trên đài truyền hình Việt Nam. Nên chăng Giáo hội nên kiến nghị vấn đề này với nhà nước?
Việc khai thác các phương tiện truyền thông đại chúng quảng bá lễ hội Phật giáo từ trước đến nay ít được Phật giáo chúng ta chú trọng. Có thể vì một số ý kiến quan niệm Phật giáo chỉ có “lễ” (dành cho tu sĩ, tín đồ), không có “hội” (dành cho rông rãi mọi người, kể cả người ngoại đạo) mà cụ thể trong Phật giáo chỉ thấy dũng từ “lễ”, thí dụ Đại lễ Phật Đản, Đại lễ Vu Lan, lễ Thành Đạo, rất hiếm khi có từ “lễ hội”. Thực ra, các cuộc lễ lớn của Phật giáo trong thực tế đều là lễ hội, tức là hướng tới tất cả mọi người, dành cho tất cả mọi người, do đó cần hết sức coi trọng việc quảng bá. Phần “lễ” thuộc về lễ nghi tôn giáo còn các hoạt động khác như văn nghệ, xe hoa, thả bong bóng, phóng sanh… thì thuộc về phần “hội”. Mà đã là “hội” trong Phật giáo thì có thể xem là một hình thức bố thí pháp, tạo điều kiện cho tất cả mọi người rộng rãi tiếp xúc với đạo pháp, tạo duyên cho mọi người đến với Phật giáo. Việc quảng bá lễ hội Phật giáo trên các phương tiện thông tin đại chúng là hoạt động “gieo duyên” để mọi người đến với Phật pháp. Như vậy việc quảng bá lễ hội Phật giáo trên các phương tiện thông tin đại chúng là điều hết sức cần thiết cho việc hoằng pháp, lợi sanh. Tất cả các lễ hội Phât giáo, từ những lễ hội mang tính chất toàn cầu như lễ Phật Đản, lễ hội mang tính chất toàn quốc như lễ Vu Lan, đến các lễ hội giới hạn trong phạm vi mỗi tu viện, tự viện như lễ an vị tượng Phật, lễ lạc thành, húy kỵ các vị Tổ sư… đều có thể sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để quảng bá. Tùy theo quy mô và tính chất lễ hội để có các phương thức quảng bá thích hợp.
2) Ghi âm – ghi hình:
Đây là phương tiện được coi là có hiệu quả, tác động nhiều đến quần chúng. Trong những thập niên gần đây, phương tiện này được sử dụng khá phổ biến. Các bài thuyết pháp của các vị giảng sư được thu hình vào dĩa VCD và được phổ biến rất nhiều, hầu như các chùa lớn đều có phát hành, nội dung các bài thuyết pháp rất phong phú . Các vị Pháp Sư như HT. Thích Trí Quảng, HT. Thích Thiện Trí v.v… và các vị giảng sư trẻ như TT. Thích Phước Tiến, TT. Thích Thiện Thuận , TT. Thích Hạnh Bảo, TT. Thích Phổ Hòa, TT. Thích Thông Phổ… đã thuyết giảng rất thuyết phục khán thính giả, rất vui, rất hấp dẫn, gần gũi với đời sống của Phật tử. Nhờ thế giáo lý Đạo Phật mới được truyền bá rộng rãi đến quần chúng, giúp cho Phật tử hiểu và sống đúng với Chánh pháp, bớt mê tín dị đoan. Tuy nhiên, việc phổ biến các bài diễn văn, đạo từ, thông điệp…. bằng phương tiện này chưa được chú trọng. Với những tiến bộ của khoa học công nghệ truyền thông hiện nay thì việc phổ biến các bài diễn văn, đạo từ, thông điệp… bằng các phương thức như video online, audio online, dĩa DVD, VCD, CD … là hết sức dễ dàng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí (2.000 đ/1dĩa VCD)
Chẳng hạn một vị Hòa thượng trú trì thay vì gởi thiệp chúc tết, thiệp Phật Đản, Vu Lan đến môn đồ Tăng Ni, Phật tử thì có thể thu hình đạo từ của mình trên dĩa VCD và gởi tặng thay cho thiệp chúc. Mà việc in một thiệp chúc trên giấy hiện nay có thể phức tạp và đắt tiền hơn so với việc in một dĩa VCD. Hơn nữa nội dung chứa đựng trên dĩa VCD phong phú và sinh động hơn rất nhiều so với thiệp in trên giấy. Thử tưởng tượng, những ngày xuân , Phật tử chúng ta mở dĩa hình đạo từ chúc tết của quý Chư Tôn đức tại nhà thì không khí đạo vị trong gia đình chắc chắn sẽ tăng lên rất nhiều, chừng như rước được quý Thầy về nhà mừng Xuân cùng chúng ta. Như thế, Phật giáo sẽ có thêm một phương thức truyền thông trong hoạt động Phật sự. Thực ra, cách này cũng đã được một số Hòa thượng sử dụng như Hòa thượng Thích Thanh Từ chúc tết qua băng cassette, lời chúc tết của Thiền sư Nhất Hạnh in trên dĩa CD… nhưng chưa được phổ biến vì cũng có những hạn chế về phương pháp tiện này.
II. CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Trong lĩnh vực khoa học kỷ thuật, sự phát triển công nghệ thông tin trong những thập niên gần đây tiến rất nhanh. Từ phát thanh sóng ngắn (short wave-SW, có thể phát với cự ly hàng chục ngàn km), sau đó truyền hình vệ tinh (phát toàn thế giới) và ngày nay phương tiện truyền thông trên Internet khá phổ biến và tiện lợi, thu hẹp khoảng cách giữa những con người trên thế giới. Các chương trình truyền hình, các trang web có thể giúp cho những người cách xa nửa vòng trái đất chứng kiến gần như tức thì những sự kiện xảy ra ở nửa bán cầu bên kia. Hoặc có những buổi họp mà các thành viên ngồi ở nhiều Châu lục khác nhau bằng trực tuyến... Sự truyền bá Phật giáo trên Internet là rất cần thiết và tiện lợi:
1/- Tài liệu, thông tin khá đầy đủ và chính xác: Máy vi tính chứa được rất nhiều tài liệu, nên đối với người truyền bá PGVN thì nó rất cần để tra cứ tài liệu. Nếu máy vi tính không đủ thì ta có thể tra cứ trên mạng internet. Như vậy máy vi tính, mạng internet sẽ giúp cho việc tìm, chuyển tải những thông tin rất cần thiết đến với mọi người.
2/- Nhanh chóng và tiện lợi: Nhờ công nghệ thông tin mà mọi người trên thế giới có thể đến gần với nhau hơn trong tích tắc qua các cuộc gọi điện thoại quốc tế, qua mạng internet, qua email, qua nhắn tin, qua website.Vận dụng phương tiện công nghệ thông tin, ta có thể giới thiệu tin tức Phật sự, những bài giảng giáo lý, những nghi lễ tâm linh… đến với mọi người khắp nơi trên hành tinh này vừa nhanh vừa tiện lợi, chính xác và đầy đủ. Trong khi đó, nếu dùng báo chí để chuyển tải những lãnh vực như trên thì phải mất thời gian, rất là bất lợi. Muốn tìm hiểu, tra cứu một vấn đề gì, trước đây ta phải đến thư viện tìm kiếm, lục lọi rất mất thời gian, ngày nay ta chỉ cần ngồi vào máy tính bấm nút là ít giây sau ta có ngay điều ta cần tìm.
3/- Đáp ứng mọi đối tượng có nhu cầu: Trong quá khứ, những người cầu Đạo sẽ đến Chùa Chiền để hỏi Phật Pháp, có khi họ phải lặn lội đến rừng sâu để tìm thầy hỏi Đạo. Bây giờ người cầu đạo giải thoát có thể ngồi ở nhà, trên máy điện toán, để tìm kiếm những tài liệu cần thiết từ trong mạng lướt toàn cầu của Phật giáo trong khoảnh khắc. Hoặc có thể gởi những câu hỏi Phật Pháp bằng điện thư hay đăng tải trên diễn đàn để có được câu trả lời từ “những nhà giảng Đạo máy tính”. Như vậy người hoằng Pháp không phải lặn lội đến những nơi xa xôi để truyền bá Phật giáo. Cho nên, người Phật tử chúng ta cần nhìn công nghệ thông tin bằng con mắt hoan hỷ. Công nghệ thông tin là lợi thế của Phật giáo ngày nay. Chú ý đến đặc điểm này, chắc chắn sẽ giúp ích cho hoạt động hoằng pháp đạt được hiệu quả cao.
Thế mạnh của công nghệ thông tin trong công cuộc truyền bá PGVN là rất to lớn nên NS Như Nguyệt đã phát biều trong Hội thảo kỷ niệm 25 năm thành lập GHPGVN :“ Ngày nay trước một xã hội, thời đại công nghệ thông tin phát triển vượt bực, để nắm bắt kịp thời thông tin đại chúng trong thời hiện đại và công nghiệp hóa đất nước, các chùa nên cho phép các Tăng Ni có năng khiếu về tin học… được học môn đó. Nếu được thế thì các Giáo hội địa phương thêm nguồn nhân lực dồi dào cũng như cá nhân Tăng Ni có thêm điều kiện học tập, cập nhật hóa những tin tức Phật sự trong nước và quốc tế. Qua đó sẽ thêm thắng duyên trau dồi kiến thức Phật học và xã hội qua hệ thống công nghệ thông tin hiện đại”.
Nhưng khi áp dụng công nghệ thông tin để truyền bá PGVN, chúng ta phải đề phòng, nó như con dao hai lưỡi. Chúng ta phải nhận thức mối nguy hiểm tiềm ẩn do sự quyến rủ của kỹ thuật. Cái lợi và cái hại luôn ngấp nghé bên nhau, người sử dụng phương tiện này phải biết áp dụng chánh Pháp của đức Phật vào đời sống công nghệ để giảm thiểu những tiêu cực do chúng đem lại. Sẽ có nhiều quan ngại khi để cho Tăng Ni, nhất là Tăng Ni trẻ, tự do sử dụng công nghệ thông tin. Tăng Ni trẻ có thể bị ô nhiễm thế pháp, bị hư hỏng hay bị biến chất khi không có chánh niệm trong khi sử dụng phương tiện thông tin hiện đại này.
Tuy nhiên, về phần cộng đồng đại chúng, thì đối với thế giới, Việt Nam là một nước nhược tiểu, dân chúng chưa biết hay không đủ điều kiện để biết công nghệ thông tin, nên sẽ không hoàn toàn thành công khi chỉ sử dụng một phương tiện này để truyền bá Phật giáo. Cho nên người hoằng Pháp vẫn phải đến tận địa phương để truyền bá Phật giáo, vì suy cho cùng thì học Phật trên điện toán cũng không thể hoàn toàn loại bỏ phương pháp giảng dạy bằng “mặt đối mặt” như giữa thầy và trò được. Chủ trương hoằng Pháp tận vùng sâu vùng xa của Phật giáo Việt Nam luôn là tiêu chí cần thực hiện.
Như vậy, ngoài phương tiện truyền bá Phật giáo bằng công nghệ thông tin là siêu đẳng rồi, thì phương tiện truyền thông như in ấn, xuất bản báo chí, phát thanh, truyền hình… là những phương tiện vẫn luôn hữu hiệu trong việc truyền bá Phật giáo, chẳng những ở những thế kỷ trước mà ngay cả ở thế kỷ 21 và các thế kỷ tiếp theo, các phương tiện này vẫn mãi mãi rất đắc dụng vậy.
Kính bái bạch chư Tôn Thiền đức Tăng Ni
Kính thưa quý Liệt quý vị,
Trên đây là ý kiến phát biểu của Ban Văn Hóa Phật giáo tỉnh Ninh Thuận.
Trước khi dứt lời, thành kính cảm niệm chư Tôn Giáo Phẩm, chư Tôn đức Tăng Ni, quý đại biểu, quý khách mời đã nhiệt tình lắng nghe chia sẻ, nếu có điều gì sơ xuất, kính xin được từ bi hoan hỷ lượng thứ. Cầu chúc chúng hội luôn yên bình trong ánh sáng huy hoàng của chư Phật.
Xin kính chúc Hội Thảo thành công tốt đẹp.
Nam Mô Thường An Lạc Bồ Tát Ma Ha Tát.
THAM LUẬN
Kỷ niệm 30 năm ngày thành lập GHPGVN
của Hòa thượng Dương Nhơn – Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh,
Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN
Kính bạch Chư Tôn đức Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự GHPGVN.
Kính thưa Quý Ngài Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quý Cơ quan Bộ, Ban ngành Trung ương.
Kính thưa Hội nghị,
Cách đây 30 năm, Tôi danh dự được tập thể quý Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức Tăng ở Nam bộ thống nhất cử tôi là đại diện Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước miền Tây Nam bộ để đọc bài tham luận, nói lên niềm tin tưởng trong việc vận động 09 Hệ phái Phật giáo trong đó có Hội Sư sãi chúng tôi để thống nhất Phật giáo cả nước với tên gọi là “GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM”. Tôi ý thức rằng GHPGVN khi mới ra đời đã có Hiến chương, có Đề cương – Chương trình hoạt động của GHPGVN.
Những Nghị quyết, Thông bạch này làm cho giới Sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer càng tin tưởng thêm về hoạt động của Giáo hội sẽ lớn mạnh và phát triển về tổ chức Phật giáo và 10 Ban, Viện Trung ương hoạt động có hiệu quả. Ban Trị sự Phật giáo các Tỉnh, Thành cả nước tiếp tục được Đại hội trong đó có các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long là địa phương có đông đồng bào Sư sãi Khmer. Các Hệ phái Phật giáo ở địa phương có sự hòa hợp hài hòa biết chia sẻ nhau trong mọi hoạt động Phật sự tại cơ sở và địa phương.
Bản thân tôi cảm thấy hết sức hoan hỷ được tham gia là đại diện cho Hệ phái Phật giáo Nam tông và nhìn thấy sự lớn mạnh trên tinh thần hòa hợp, đoàn kết của GHPGVN trong suốt 30 năm qua, đồng thời cũng luôn bùi ngùi nhớ đến quý Ngài cố Đại lão Hòa thượng lãnh đạo GHPGVN, là những vị trụ cột để vận động và ra mắt 09 Hệ phái Phật giáo được thống nhất cả nước. Đối với Hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer đã có cố Đại lão Hòa thượng Maha Thạch Sarây, Hòa thượng Thạch Xom, nguyên Phó Pháp chủ HĐCM, cố Hòa thượng Châu Mum – Phó Chủ tịch HĐTS và nhiều vị Hòa thượng là thành viên HĐCM, Ủy viên HĐTS GHPGVN đã đóng góp công sức, trí tuệ cho GHPGVN mà quý Ngài không được chứng kiến ngày trọng đại hôm nay.
Kính bạch Chư Tôn đức,
Kính thưa Quý Đại biểu,
Tôi còn nhớ đặc điểm bài tham luận cách đây 30 năm thể hiện rất rõ vai trò của nhà chùa và nhà sư Phật giáo Nam tông Khmer Nam bộ thể hiện được lòng yêu nước, yêu quê hương phum srok có trách nhiệm gìn giữ tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán lâu đời của dân tộc và Phật giáo Nam tông khmer, cụ thể như thời chiến tranh lời kêu gọi của cụ Hồ và Mặt trận Dân tộc giải phóng Ban Khmer Vận khu Tây Nam bộ thời kỳ ấy, Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước miền Tây Nam bộ ra đời vào ngày 20 tháng 3 năm 1963 nhằm tập hợp các chùa và quý vị Sư sãi, đồng bào dân tộc Khmer đứng lên đòi độc lập dân chủ, chống áp bức bắt lính bằng nhiều hình thức như tổ chức biểu tình, chống đối với chánh quyền Sài gòn. Thời điểm này rất nhiều vị hy sinh như Achar Thanh (Sóc Trăng), bốn vị Sư liệt sĩ ở Kiên Giang, ba vị Sư ở Trà Vinh.
Đến ngày giải phóng 30/4/1975, Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước có trách nhiệm vận động các chùa giới Sư sãi và đồng bào dân tộc Khmer trong phát triển kinh tế đảm bảo cuộc sống bằng lao động sản xuất nông nghiệp, trồng cây cổ thụ như sao, dầu, trong nhà chùa mở các lớp dạy song ngữ Khmer – Việt, lớp Pali giáo lý, tuyên truyền vận động Phật tử thực hành tiết kiệm, tổ chức hội nghị, hội thảo về nếp sống văn hóa, về lễ cưới, lễ tang và những lễ hội diễn ra trong năm như Chôl Chnăm Thmây, lễ Sene Đonl Ta, lễ Kathina, lễ hội cúng trăng Ook Om Bok, đua ghe ngo…; Tại tỉnh Hậu Giang lúc bấy giờ, cho ra đời qui ước Đại hội Achar là mốc qui định để vận động làm cho giới Sư sãi và đồng bào dân tộc Khmer hết sức đồng tình. Về việc vận động nghĩa vụ lương thực và nghĩa vụ quân sự đạt kết quả khả quan, đến GHPGVN ra đời (07/11/1981), sự hoạt động có phần chuyển biến tích cực hơn, các vị Phật giáo Nam tông Khmer được Đại hội Phật giáo từng nhiệm kỳ suy tôn giáo phẩm HĐCM, Phó Pháp chủ, Thành viên HĐCM, Phó Chủ tịch HĐTS, Ban Thư ký, Ban Thường trực, có cơ cấu các phó ban của 10 Ban, Viện Trung ương và Ban Trị sự Phật giáo các tỉnh được Đại hội cơ cấu quý vị tôn túc Phật giáo Nam tông Khmer có vị là cương vị lãnh đạo Phật giáo tại địa phương. GHPGVN có chủ trương thành lập Ban – Bộ cụ thể, cộng với sự hài hòa và hỗ trợ lẫn nhau nên hoạt động vó nhiều thuận lợi, tích cực nhất là Ban Giáo dục được tổ chức nhiều cuộc họp chư Tăng và 04 lần Hội nghị Chuyên đề Phật giáo Nam tông Khmer, Nghị quyết các cuộc họp sơ kết, tổng kết hay Đại hội Phật giáo toàn quốc từng nhiệm kỳ đều nói lên sự quan tâm tạo điều kiện hỗ trợ giúp đỡ hoạt động của Phật giáo Nam tông Khmer. Nổi bật nhất là cấp giấy Chứng nhận cho chư Tăng Phật giáo Nam tông Khmer, hỗ trợ in ấn sách, kinh tụng, sách học tập Pali, giáo lý, hỗ trợ việc mở lớp Phật học ở các tỉnh, thành từ Sơ cấp, Trung cấp đến Học viện Phật giáo Nam tông Khmer, đào tạo được nhiều vị Tăng tài để phục vụ cho Phật giáo và Dân tộc trong hiện tại và tương lai. Một lần nữa Tôi rất là hoan hỷ với những duyên lành thành quả trong thời gian qua. Tôi thiết nghĩ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập GHPGVN là bước ngoặt lịch sử để nhìn lại một chặng đường hoạt động Phật sự xã hội và sẽ có những phương hướng hoạt động cho thời gian tới, chắc chắn là có cơ duyên phát triển và tiến bộ hơn để đưa con thuyền Phật giáo Việt Nam đi đến Chân – Thiện – Mỹ và thành đạt mọi điều hạnh phúc.
Tôi mong muốn GHPGVN đã quan tâm và quan tâm hơn nữa đến hoạt động Phật sự xã hội đối với Phật giáo Nam tông Khmer trong lòng GHPGVN là ngôi nhà chung của chúng ta.
Với niềm tin tưởng vô biên, Tôi cầu nguyện hồng ân Tam bảo luôn hộ trì Phật giáo Việt Nam được thành tựu trong mọi hoạt động Phật sự.
Mong mọi lợi ích đến tất cả chúng sanh trong hiện tại và tương lai.
Chúc Hội nghị thành công viên mãn.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
HỆ PHÁI PHẬT GIÁO NAM TÔNG NGƯỜI KINH
Trong bản chất và diện mạo thống nhất của Phật giáo Việt Nam
Hòa thượng Thích Thiện Tâm
Ủy viên Thường trực HĐTS GHPGVN
Tổng biên tập Tạp chí Phật giáo Nguyên thủy
1. Lịch sử
Trong tiến trình thống nhất Phật giáo Việt Nam, một tiến trình diễn ra liên tục, từ hơn nữa thế kỷ trước, đạt được kết quả rực rỡ vào tháng 11 năm 1981, và hiện nay đang trong giai đoạn củng cố, hoàn thiện sự thống nhất đã có, Phật giáo Nam tông người Kinh, sau đây xin được gọi tắt là hệ phái Theravada, đã đóng một vai trò quan trọng, cả trong bản chất lẫn diện mạo của quá trình thống nhất.
Trong sự kiện thống nhất Phật giáo lần thứ nhất, năm 1951, thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam, hệ phái Theravada không có mặt, vì cho đến lúc đó, Phật giáo Theravada đang trong giai đoạn hình thành, số Tăng Ni Phật tử, chùa chiền chưa nhiều, để tạo nên yêu cầu khách quan cho việc hiện diện trong tiến trình thống nhất Phật giáo Việt Nam lúc bấy giờ.
Hơn mười năm sau, với sự nỗ lực của chư vị lãnh đạo Phật giáo Theravada lúc bấy giờ, như các vị Hòa thượng Thiện Luật, Hòa thượng Hộ Tông..., và nhiều vị cư sĩ nhiệt tâm, các tổ chức Phật giáo Theravada ra đời, trong đó, giữ vai trò chủ chốt là Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, cũng như sự gia tăng đáng kể chư Tăng, Phật tử, chùa chiền, khiến Phật giáo Theravada trở thành một thành phần quan trọng của Phật giáo Việt Nam, kể cả trong vai trò cấu thành cũng như trong diện mạo (hình thức thể hiện).
Tuy đến lúc này, Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam chưa tham gia vào tổ chức Phật giáo thống nhất Phật giáo, nhưng những biểu hiện của sự thống nhất đã được thể hiện. Thích Ca Phật Đài do Phật giáo Theravada xây dựng tại Vũng Tàu thể hiện sự lớn mạnh của hệ phái và lễ khánh thành được đặt dưới sự chủ trì của chư tôn đức lãnh đạo Tổng hội Phật giáo Việt Nam đã bước đầu thể hiện sự thống nhất mà Phật giáo Theravada luôn hướng đến.
Trong sự thống nhất, chỉ mới đạt ở mức độ tinh thần, nhưng Phật giáo Theravada Việt Nam đã cùng chịu đựng với Phật giáo Việt Nam sự bách hại, cũng như tham gia với các tông phái, tổ chức Phật giáo tại Việt Nam trong Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo để cùng đấu tranh cho sự sinh tồn của Phật giáo.
Điều đó, thể hiện sự thống nhất của hệ phái Phật giáo Theravada đối với Phật giáo Việt Nam trong lịch sử là một vấn đề thuộc về bản chất, không phải là vấn đề hình thức.
Nếu lần thống nhất Phật giáo vào năm 1951 là sự thống nhất ở tầm vóc quốc nội, với các tổ chức Phật giáo ở ba miền Nam Trung Bắc, thì lần thống nhất Phật giáo vào năm 1964 đã mang tính quốc tế, vì Theravada là một hệ phái mang tính chất quốc tế, là tông phái của đạo Phật quốc giáo ở nhiều quốc gia Đông Nam Á và Nam Á. Cuộc thống nhất năm 1964 được thể hiện chủ yếu như một cuộc thống nhất Bắc – Nam tông, tiếp nối lần thống nhất các địa phương trước đó.
Do đó, Hiến chương của Giáo hội Phật giáo tại miền Nam được thành lập từ năm 1964 yêu cầu Đức Phó Tăng thống phải là vị tôn đức có hệ phái khác với Đức Tăng Thống (được hiểu một cách chi tiết là nếu Đức Tăng Thống là một vị tôn đức Bắc tông thì Đức Phó Tăng thống phải là Nam tông, để thể hiện sự thống nhất Bắc – Nam tông, và trong thực tế Hòa thượng Thích Thiện Luật thuộc Phật giáo Theravada đã giữ ngôi vị Phó Tăng thống trong một thời gian dài ). Tính chất Bắc – Nam Tông còn được thể hiện ở một vị Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo (tương đương Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự hiện nay) luôn là một vị tôn đức Nam tông.
Hình ảnh thống nhất Phật giáo Việt Nam Bắc Nam tông trước hết tại TPHCM vẫn tiếp tục ở thời điểm sau năm 1975, với tổ chức Ban Liên lạc Phật giáo Yêu nước. Trước khi đi đến một sự thống nhất toàn diện, triệt để, Ban Liên lạc Phật giáo Yêu nước cũng là một tổ chức Phật giáo thể hiện đầy đủ tính chất thống nhất Bắc - Nam tông. Phật sự quan trọng mà hệ phái Theravada đóng góp trong giai đoạn này là hoạt động truyền giới lại cho chư Tăng Phật giáo Campuchia, mà tất cả đã bị hoàn tục trong những năm chế độ diệt chủng Pôn Phốt chiếm chính quyền. Việc hồi sinh Phật giáo Campuchia, mà Phật giáo Theravada Việt Nam đóng góp, trong tư cách sự trợ giúp của Phật giáo Việt Nam nói chung dành cho Phật giáo Campuchia, đã có một vị trí quan trọng trong trong việc hồi sinh của cả dân tộc Campuchia, là một Phật sự công đức lớn lao. Nó cũng thể hiện diện mạo Phật giáo Việt Nam thống nhất Bắc Nam tông trong mọi hoàn cảnh, dù trong hoàn cảnh chưa đủ nhân duyên hình thành một tổ chức thống nhất hoàn toàn và triệt để.
2. Góp phần xây dựng ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Sự kiện trọng đại đã đến vào tháng 11 năm 1981, với sự thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trong đó có sự tham gia của Giáo hội Tăng Già Nguyên thủy Việt Nam (Phật giáo Nam tông kinh). Từ đó đến nay, Phật giáo Nam tông Kinh, vẫn thường gọi là hệ phái Theravada, luôn gắn bó trong tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam, dù vẫn giữ gìn nghiêm túc truyền thống tu tập biệt truyền của mình. Sự đóng góp của hệ phái Nam tông Kinh thể hiện ở đủ các mặt trong sinh hoạt Giáo hội Phật giáo Việt Nam, từ hoằng pháp, giáo dục Tăng Ni, đến tăng sự, văn hóa, giao lưu quốc tế...
Hình ảnh của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đối với cộng đồng Phật giáo thế giới luôn là hình ảnh một Giáo hội Phật giáo đặc biệt gồm cả Bắc Nam tông. Tầm vóc thống nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tầm vóc thống nhất có tính quốc tế nâng cao. Điều đó, thể hiện Phật giáo Việt Nam là sự dung nạp độc đáo hai hướng truyền bá chính của Phật giáo thế giới tại châu Á.
3. Đề xuất hướng tới sự phát triển chung
Để thể hiện sâu sắc hơn nữa, trọn vẹn hơn nữa tính chất thống nhất toàn diện Bắc - Nam tông của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, góp phần thúc đẩy hoạt động đối ngoại của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cũng là đồng thời thúc đẩy hoạt động ngoại giao nhân dân của nước ta đối với các nước theo Phật giáo Nam tông ở Đông Nam Á và Nam Á (như Lào, Campuchia, Thái Lan, Sri Lanka...), tông phái Phật giáo Therarada trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần được thể hiện không phải như một tông phái địa phương với địa bàn hoạt động chủ yếu chỉ ở các tỉnh phía Nam, mà là một tông phái toàn quốc, là một phần diện mạo toàn quốc của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đây là một điều cần thiết để thúc đẩy ngoại giao nhân dân giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước Đông Nam Á, Nam Á theo Phật giáo Nam tông. Vì lợi ích chung của đất nước và Giáo hội, chúng tôi đề nghị Giáo hội Phật giáo Việt Nam hỗ trợ tông phái Theravada truyền bá ở các tỉnh phía Bắc, thể hiện một diện mạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Bắc – Nam tông ở phạm vi toàn quốc thật sự.
Trong mục tiêu này, ngoài sự việc trợ giúp thuận duyên từ Giáo hội Trung ương, nỗ lực của chính hệ phái Theravada, cũng còn cần đến sự giúp đỡ từ chính quyền, trước hết trong việc kiến tạo một ngôi chùa Nam tông ở thủ đô.
Ngoài việc phục vụ cho hoạt động tôn giáo mang tính chất thống nhất toàn diện, đa hệ phái của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hình thành diện mạo thống nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại thủ đô, ngôi chùa Phật giáo Theravada tại Hà Nội còn là nơi các nhà ngoại giao, kiều dân các quốc gia Phật giáo Nam tông đến lễ bái, tu tập, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của số không nhỏ bạn bè quốc tế trong khối Đông Nam Á.
Hệ phái Theravada luôn hướng đến việc kiến tạo một sự thống nhất tuyệt đối vững chắc, toàn diện, triệt để, có tính chất vĩnh viễn trong ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Sự phát triển của hệ phái Theravada trong lòng Giáo hội Phật giáo Việt Nam là sự thể hiện sinh động bản chất và diện mạo thống nhất của Phật giáo Việt Nam./.
PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER NAM BỘ (TRƯỜNG HỢP TỈNH SÓC TRĂNG) TỪ GÓC NHÌN NGÔI CHÙA VÀ TẦNG LỚP SƯ SÃI
Thạc sĩ Tiền Văn Triệu
Phân hội Văn nghệ dân gian -
Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Sóc Trăng
Phật giáo Nam tông Khmer Nam bộ với tư cách là một trong những bộ phận hợp thành của Phật giáo Việt Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử, các vị chức sắc và các Phật tử của bộ phận tôn giáo này đã cùng với Phật giáo Việt Nam làm sáng thêm tinh thần sống “tốt đời đẹp đạo” và góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Trong bài viết này, chúng tôi qua nghiên cứu trường hợp Phật giáo Nam tông Khmer Nam bộ của tỉnh Sóc Trăng để nhìn lại và lý giải, đề xuất những vấn đề sắp tới đối với bộ phận tôn giáo này. Bài viết gồm các phần chính sau đây:
1. Khái quát đặc điểm tình hình tỉnh Sóc Trăng
Là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, Sóc Trăng nằm ở cuối lưu vực sông Hậu, tiếp giáp Biển Đông với 72 km bờ biển, hình thành tự nhiên 3 vùng sinh thái: ngọt, lợ, mặn. Diện tích tự nhiên 3.223 km2, dân số chung 1.273.951 người, người Khmer có 367.568 người, chiếm 28,85%, người Hoa có 74.328 người, chiếm 5,83%, trong đó người Kinh chiếm đại đa số có 831.692 người, với 65,28%, dân tộc khác có 363 người, chiếm 0,03%. Tỉnh có 9 huyện, 1 thành phố, các huyện có tỷ lệ người Khmer cao là: Vĩnh Châu (52,10%), Mỹ Xuyên (38,16%), Mỹ Tú (34,57%), Long Phú (33,63%); có 46/106 xã đông đồng bào dân tộc Khmer và 174/764 ấp đông đồng bào dân tộc Khmer. Người theo đạo chiếm 50,3%, trong đó: đạo Phật Bắc tông 103.177 người, Nam tông 341.512 người… có trên 83% dân số sống ở nông thôn. Toàn tỉnh có trên 92 chùa Khmer, với 1.782 vị sư sãi, trong đó có 11 Hoà thượng, 14 Thượng toạ, 70 Đại đức.
2. Phật giáo Nam tông Khmer Sóc Trăng từ góc nhìn trung tâm - ngôi chùa
Trong số 07 tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Cao Đài, Tin Lành, Phật giáo Hòa Hảo, Tịnh Độ Cư sĩ Phật Hội Việt Nam, Tứ Ân Hiếu Nghĩa) được công khai hoạt động một cách hợp pháp ở Sóc Trăng có Phật giáo (có Bắc tông và Nam tông). Phật giáo Khmer Nam tông là tôn giáo truyền thống và chính thống của người Khmer ở Sóc Trăng. Đại đa số người Khmer Sóc Trăng lấy đạo Phật làm tôn giáo cao nhất với hình ảnh chí tôn là Phật Thích Ca. Tập trung hoạt động tôn giáo và các loại hình văn hóa xã hội, tín ngưỡng tôn giáo của người Khmer Sóc Trăng tập trung chủ yếu ở 92 ngôi chùa Khmer hiện có ở Sóc Trăng. Vì họ quan niệm sống và chết đều gần với đức Phật sẽ được hưởng phước về sau, nhất là khi chết đi sẽ được lên cõi Niết bàn, đắc đạo.
Nói về tôn giáo của người Khmer Sóc Trăng là nói về Phật giáo Nam tông xưa cũng như nay. Từ rất lâu đời, người Khmer Sóc Trăng đã coi Phật giáo Nam tông là tôn giáo chính thống cùng với thiết chế xã hội khép kín của mình (loại hình cư trú khép kín trong phum, sóc), họ đã giữ vững được tôn giáo độc tôn Phật giáo Nam tông trong đời sống tín ngưỡng của họ. Đây là một đặc điểm hết sức nổi bật khi nói về tôn giáo của người Khmer Sóc Trăng. Ta ít có những phát hiện về các trường hợp người Khmer theo đạo khác khi xung quanh họ có ngôi chùa là trung tâm chi phối các hoạt động văn hóa, từ lễ hội đến các nghi lễ có liên quan đến sự sống và cái chết của tộc người này. Thiết chế phum, sóc đã góp phần giữ gìn những nét đẹp truyền thống của Phật giáo Nam tông, tức là không có sự lai tạp của các yếu tố tôn giáo khác trong đời sống tín ngưỡng của người Khmer Sóc Trăng. Điều này có những ưu điểm nhưng cũng có những hạn chế của nó mà chính ngôi chùa là một chủ thể làm nên những đặc điểm nêu trên.
Như chúng ta đã biết, chùa là trung tâm chỉ đạo mọi hoạt động trong đời sống tín ngưỡng của người Khmer và cùng với nó, quan niệm về sự phúng điếu tất cả đều tập trung vào chùa. Người Khmer quan niệm cúng cho chùa cũng chính là cúng cho Đức Phật và chùa là trung gian tín ngưỡng tôn giáo, để sau khi chết họ được hưởng phước từ đức Phật. Và chính từ sự tập trung này, chúng ta thấy về mặt quản lý tôn giáo tương đối thuận lợi vì có sự tập trung thông qua các vị sư sãi là chủ yếu. Do tập trung như vậy nên về mặt đời sống kinh tế của người Khmer Nam bộ nói chung và người Khmer Sóc Trăng nói riêng gần như chỉ tập trung vào chùa và tập trung vào một số chức sắc của chùa. Điều này có lợi mà cũng có hại, lợi như ta đã thấy có sự thống nhất và tập trung, nhưng hại là một số phần tử nhìn thấy và muốn có cơ hội nắm quyền lực trong chùa đã nảy sinh ra hiện tượng mâu thuẫn nội bộ trong Phật giáo Nam tông ở Sóc Trăng. Như vậy, có nhiều chùa và thậm chí là hiện tượng từ salatel đi lên chùa của một số địa phương dưới sự quản lý chưa đúng lúc, chưa có phương thức phù hợp, chưa đúng bản chất của tôn giáo đã tạo những điều kiện thuận lợi cho các phần tử vì lợi ích kinh tế và các mục đích khác gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo làm mất đoàn kết nội bộ và khối đại đoàn kết dân tộc.
Vậy là từ vấn đề tôn giáo, chúng ta thấy có nhiều điểm đáng chú ý có liên quan đến các hoạt động quản lý cũng như đảm bảo cho tôn giáo hoạt động đúng mục đích “tốt đời, đẹp đạo” đang là vấn đề đặt ra cho các cấp quản lý trong thời kỳ mở cửa, hội nhập. Liệu thiết chế “kín cửa tập trung” của người Khmer có đủ sức bền để duy trì những truyền thống tốt đẹp hiện có trong nội bộ các tôn giáo, đó là còn chưa nói đến sự “lấn sân” bằng phương thức kinh tế của các đạo khác đối với tôn giáo này?!
Ngôi chùa như đã nói là trung tâm của mọi hoạt động, trong đó nổi lên vai trò của tôn giáo trong đời sống người Khmer. Hiện nay cũng như trong tương lai, Sóc Trăng sẽ có những ngôi chùa Khmer khác được mọc lên, xây dựng từ nhiều nguồn kinh phí như do Phật tử đóng góp, do nhà nước cấp, và còn một điều nữa là do các nguồn tài trợ từ ngoài vào bằng nhiều con đường thông qua Phật tử, thông qua lễ hội phúng điếu, thông qua quyên góp xây dựng phum, sóc… Nếu quản lý không phù hợp cũng là một vấn đề đáng lo ngại, vì nếu kinh phí được cấp vào để xây chùa thì vấn đề không có gì xảy ra và ngược lại nếu số tiền có đến hàng tỉ đồng được dùng vào các mục đích tư lợi của một số phần tử cũng sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến văn hóa truyền thống vùng đồng bào dân tộc Khmer Sóc Trăng, nhất là hiện nay chúng ta đang còn đến 46/106 xã đông đồng bào dân tộc Khmer, 174/764 ấp đông đồng bào dân tộc Khmer có đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn và nhà nước đã phải có nhiều chính sách hỗ trợ nhưng kết quả vẫn chưa như mong muốn.
Vậy, từ trung tâm của tôn giáo - Phật giáo Nam tông - ngôi chùa, chúng ta có điều kiện nhìn lại và cũng có nhiều vấn đề cần quan tâm, có biện pháp, chính sách thích hợp. Đặc biệt là cần có những chính sách tập trung vào việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, tín ngưỡng của đồng bào Khmer Sóc Trăng nhằm nâng cao trình độ dân trí và đời sống kinh tế ổn định cho họ. Có thể, chúng ta tăng cường mở lớp giảng dạy văn hóa từ trong chùa, do chùa còn là nơi dạy chữ bên cạnh dạy đạo lý, pháp lý bằng cách tăng cường một đội ngũ trí thức có hiểu biết về tôn giáo tín ngưỡng, ngôn ngữ của người Khmer vào giảng dạy. Từ đó, qua nâng cao trình độ dân trí kết hợp với chính sách hỗ trợ kinh tế như đã làm là cấp nhà, đất sản xuất đối với những hộ nghèo… Đồng thời kết hợp với nâng cao vai trò, vị trí của người có uy tín trong đồng bào dân tộc Khmer làm nền tảng cho việc xây dựng một trung tâm văn hóa - ngôi chùa của người Khmer Sóc Trăng lành mạnh, góp phần làm đẹp thêm những truyền thống quý báu của Phật giáo Nam tông. Phật tử đã dốc hết lòng, hết sức phụng sự cho chùa thì nhiệm vụ của các cấp quản lý là bằng mọi cách xây dựng ngôi chùa có sự tác động mạnh mẽ trở lại đối với đời sống kinh tế của người dân trong phum, sóc. Có sự tác động trở lại này sẽ góp phần giảm bớt gánh nặng cho công tác quản lý dân tộc, tôn giáo ở địa phương Sóc Trăng.
3. Từ góc nhìn sư sãi
Do con người là nhân vật trung tâm của mọi hoạt động xã hội cũng như của các hoạt động tôn giáo, trong đó Phật giáo Nam tông Khmer Sóc Trăng cũng nằm trong quy luật này. Mỗi người dân Khmer chính là một Phật tử của Phật giáo Nam tông. Từ những vấn đề nêu trên về ngôi chùa trong đời sống tôn giáo của người Khmer, chúng tôi thấy một chủ thể khác quan trọng hơn rất nhiều cần được chú trọng và cần có những chính sách cũng như những đối sách hợp lý cho việc đảm bảo một tôn giáo - Phật giáo Nam tông Khmer Sóc Trăng ổn định, bền vững góp phần vào sự nghiệp xây dựng kinh tế, văn hóa xã hội của địa phương Sóc Trăng là chức sắc, Phật tử mà tập trung là các vị sư sãi.
Có thể thấy, người Khmer cho con vào chùa tu từ rất sớm với các mục đích chính là tu trả hiếu, học nghề, học chữ, học giáo lý, tu để trở thành sư sãi… Chính điều này đã góp phần giữ vững đạo Phật Nam tông của người Khmer. Vì qua đội ngũ này, những giáo lý nhà Phật sẽ mặc nhiên được tồn tại và lưu truyền trong quần chúng nhân dân Khmer. Không lạ gì những hiện tượng là những Phật tử có thể đọc thuộc rất nhiều hồi kinh mang tính chất cầu siêu, cầu an… như những sư sãi thực thụ ở chùa. Và còn nữa, những câu chuyện cổ của người Khmer thông qua ngôi chùa, các Phật tử đều kể lại và nhớ rất lâu vì trong những truyện kể đó đa phần đều mang nội dung triết lý và vai trò của Phật Thích Ca trong đời sống tín ngưỡng của người Khmer. Đó là còn chưa kể những lễ hội truyền thống như Chol Chnâm Thmây, Sen Đol Ta, Ók Om Bok đều có vai trò rất lớn của đạo Phật Nam tông và đặc biệt là các sư sãi – những người làm công tác lãnh đạo tôn giáo nhưng cũng là những Phật tử của tôn giáo đó. Vậy, vấn đề chúng ta quan tâm là đào tạo đội ngũ này như thế nào để đảm bảo hai yếu tố: vừa làm tốt công tác tôn giáo, vừa nâng cao trình độ học vấn cho họ, trong đó chú trọng đến công tác nhận thức của họ về vai trò của mình trong tôn giáo đối với đời sống nhân dân Khmer cũng như trong công cuộc xây dựng quê hương Sóc Trăng giàu đẹp. Theo chúng tôi, cần quan tâm đào tạo đội ngũ này từ nhiều mặt có sự quản lý chặt chẽ của nhiều cấp, ngành, nhiều chương trình đào tạo dân trí, chú trọng đến ngoại ngữ, làm tốt công tác giáo dục các giá trị truyền thống cho họ, quan tâm đến những tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân Khmer. Thông qua đội ngũ này nhằm nắm bắt những vấn đề có liên quan đến các hoạt động đi ngược lại với tính chất của tôn giáo. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến công tác giữ gìn và phát huy các giá trị nhân văn và công tác tuyển chọn người làm những cán bộ nòng cốt cho chùa, góp phần giữ vững tính chất thống nhất, đoàn kết trong Phật giáo Nam tông.
Hiện nay, trong các chùa Khmer đội ngũ sư sãi hầu hết đều biết hai thứ tiếng Kinh, Khmer. Nhằm tránh tình trạng bị bọn xấu lợi dụng tôn giáo với ý đồ tư lợi, gây mất an ninh trật tự ở địa phương và các mục đích khác, cần tăng cường phát hành các tư liệu có liên quan đến những vấn đề nhạy cảm về tôn giáo, về lịch sử… mà thiết nghĩ là thông qua đội ngũ sư sãi. Đó cũng chính là góp phần nâng cao vị thế, vai trò của sư sãi trong đời sống tín ngưỡng tôn giáo của người Khmer. Từ đó, thông qua họ, các chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo cũng từ sư sãi đến với nhân dân Khmer một cách thuận lợi hơn. Như vậy, cần tăng cường công tác nâng cao vai trò của tầng lớp sư sãi, vì thông qua họ với các bài giáo thuyết về tôn giáo, họ có thể lồng ghép vào đó những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước một cách hiệu quả.
Song song đó, cần nhìn nhận lại những vấn đề về bản chất của Phật tử Phật giáo Nam tông từ nhiều sự tác động như tâm lý dân tộc, tôn giáo (tâm lý sống hết mình, hết của vì đạo), đời sống vật chất, tinh thần… để có những chính sách phù hợp hơn, tránh tình trạng đầu tư hỗ trợ lãng phí đời sống đồng bào dân tộc nghèo lại hoàn nghèo, kinh tế không ổn định và bền vững. Làm được vấn đề này cần có sự cố gắng rất lớn không chỉ từ phía chính quyền, sư sãi mà bản thân Phật tử phải có những cố gắng, vươn lên cùng với sự hỗ trợ chính sách.
Tóm lại, với góc nhìn nội tại từ hai yếu tố Ngôi chùa và Sư sãi, chúng ta thấy rằng, trong đời sống Phật giáo Nam tông Khmer Sóc Trăng hiện nay đang có nhiều vấn đề cần quan tâm, giải quyết và chỉ đạo sâu sát với nhiều chính sách hỗ trợ thích hợp hơn như đã làm. Và đặc biệt là chúng ta cũng đừng quên những yếu tố nội tại của Phật giáo Nam tông chính là hai yếu tố đã nêu trên kia. Thông qua hai nhân tố chính này, những khó khăn của công tác tôn giáo, dân tộc sẽ sớm đi vào ổn định và phát triển góp phần khẳng định sự quan tâm, chỉ đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trên mặt trận này. Sự phát triển và thịnh vượng của Phật giáo Nam tông Khmer Nam bộ cũng chính là sự quan tâm đúng đắn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam./.
Tài liệu tham khảo
1. Báo cáo của Ban Tôn giáo Tỉnh Sóc Trăng từ năm 2003 đến 2010.
2. Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương khoá IX về công tác tôn giáo.
3. Niên giám thống kê tỉnh Sóc Trăng từ năm 2005 - 2010.
4. Báo cáo Tổng kết phong trào thi đua yêu nước trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Sóc Trăng (Trình Đại hội đại biểu các dân tộc thiểu số tỉnh Sóc Trăng; lần thứ I, năm 2009.
5. Nhiều tác giả (1993), Văn hóa người Khmer vùng đồng bằng sông Cửu Long, Viện văn hóa, Nxb Văn hóa dân tộc.
6. Dân tộc ở Nam Bộ 2009 - Những vấn đề nổi bật, những đáp ứng của chính sách và nghiên cứu (2009), Kỷ yếu hội thảo khoa học, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ.
7. Tiền Văn Triệu (2011), Tích xưa về người Khmer Sóc Trăng, Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Sóc Trăng, Nxb Phương Đông, Thành phố Hồ Chí Minh.
8. Tiền Văn Triệu (2007), Những lễ hội truyền thống của người Khmer Sóc Trăng, tạp chí Nguồn sáng dân gian số 1/2007.
PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER ĐBSCL ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC TRONG NGÔI NHÀ CHUNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Ths Võ Thành Hùng
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng
1. Dẫn nhập
Kể từ năm 1981, lịch sử các tổ chức, hệ phái trong ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả tốt đẹp, trong đó Phật giáo Nam tông (PGNT) Khmer là một trong 9 hệ phái của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) đã có nhiều đóng góp tích cực. Trải qua gần 30 năm, PGNT Khmer thực sự là một lực lượng rất quan trọng cùng với các hệ phái trong hệ thống GHPGVN thực hiện phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa Xã hội ”, có nhiều cống hiến trong việc xây dựng và phát triển đất nước, góp phần vào những thành tựu kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương. Qua đó, cũng thể hiện một cách trọn vẹn truyền thống đoàn kết hòa hợp của 09 tổ chức, hệ phái Phật giáo trong cả nước, trong đó có Phật giáo Nam tông Khmer với tư cách là thành viên sáng lập.
2. Vài nét về PGNT Khmer Đồng bằng sông Cửu Long
Phật giáo Nam tông đã có mặt ở Đồng bằng sông Cửu Long từ rất sớm (vào khoảng thế kỷ thứ IV). Đến thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX đại bộ phận các Phum (xóm), Sóc (nhiều xóm hợp thành) của người Khmer đều có chùa thờ Phật. Tính đến tháng 6/2010, Phật giáo Nam tông Khmer đã có 453 ngôi chùa với tổng số 8.017 chư Tăng, tăng hơn 20% so với thời điểm 1981, chiếm 19,3% tổng số sư trong cả nước)[1], tập trung chủ yếu ở 9 tỉnh (thành phố) Đồng bằng sông Cửu Long (Trà Vinh, Vĩnh Long, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Cà Mau).
Theo phong tục của người Khmer, khi người con trai đến tuổi 12, 13 phải vào chùa tu một thời gian với một hay nhiều ý nghĩa là trả hiếu cho ông bà, cha mẹ; để thực hiện tình cảm, trách nhiệm đối với dân tộc; để tỏ lòng thành kính với Đức Phật… Các thanh niên này cần phải tu tối thiểu ở chùa là một tháng, cũng có thể ở chùa tu lâu dài hoặc suốt đời, tùy theo nhân duyên, căn cơ và ý nguyện của từng người. Sau thời gian một tháng họ có thể xin ra khỏi chùa (xuất tu) trở lại cuộc sống đời thường bất cứ lúc nào. Họ có thể lập gia đình, làm ăn, tham gia các công việc xã hội, khi muốn họ lại có thể xin vào chùa tu một thời gian rồi sau đó lại có thể trở về với gia đình.
Người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long quan niệm, bất cứ người con trai Khmer nào cũng cần phải qua tu hành một thời gian để trau dồi đạo hạnh, trang bị tri thức và cách sống làm người. Người đã trải qua thời gian tu hành ở chùa được cộng đồng người Khmer nhìn nhận và đánh giá cao, mới dễ lập gia đình và dễ được tiếp nhận làm các công việc xã hội.
[1] Theo Báo cáo sơ kết công tác Phật sự 6 tháng đầu năm 2010 của GHPGVN
Quan niệm này ảnh hưởng rất lớn tới người Khmer cũng như người theo Phật giáo Nam tông ở các quốc gia khác.
Theo truyền thống, Phật giáo Nam tông Khmer không có người nữ đi tu ở chùa. Tuy nhiên, những người phụ nữ Khmer lại được giáo dục và ảnh hưởng rất lớn bởi tư tưởng và đạo đức Phật giáo, thông qua nếp sống của những người đàn ông trong gia đình (là những người ông, người cha, người chồng) và thông qua các lễ hội, các buổi nhà sư thuyết giảng giáo lý và nghi thức truyền thống mang đậm nét Phật giáo của dân tộc Khmer: Lễ Phật đản; lễ Dâng y; nghi thức dâng cúng vật phẩm cho chư tăng; lễ Chôl Chnăm Thmây (như tết nguyên đán ở Việt Nam); lễ Đôn-ta (lễ cúng ông bà); lễ cúng Trăng… Dù là lễ của Phật giáo hay lễ dân tộc nhưng mọi hoạt động này đều gắn liền với các nghi thức tôn giáo bởi mọi người cùng đến chùa, đọc kinh, thả đèn lồng… và có sự tham gia của các vị sư.
Giống như Phật giáo Bắc tông, Sư tăng Phật giáo Nam tông cũng thụ giới qua các bậc Sadi và Tỳ khưu, tuy nhiên số lượng giới phải giữ có sự khác biệt. Đối với Phật giáo Nam tông:
- Người thụ giới Sadi phải giữ 105 giới.
- Người đã thụ giới Sadi được thụ giới Tỳ khưu phải giữ 227 giới.
Cũng có thể người đi tu nếu không muốn thụ giới Tỳ khưu thì có thể giữ ở bậc Sadi suốt đời. Người nam đi tu theo Phật giáo Nam tông trên tinh thần tự nguyện, tuy nhiên chỉ được nhận vào chùa và được thụ giới Sadi khi đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản:
- Phải được sự đồng ý của cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng (nếu còn nhỏ). Người nam đã có gia đình muốn vào chùa tu phải được sự đồng ý của vợ.
- Phải là công dân tốt, không trong tình trạng vi phạm pháp luật.
- Phải có thầy dẫn dắt và có những vật dụng cần thiết của một nhà sư.
Về đời sống hàng ngày, Phật giáo Nam tông thực hành theo giới luật Phật giáo Nguyên thủy nên không ăn chay như Phật giáo Bắc tông, họ sống bằng sự dâng cúng thức ăn mỗi ngày của Phật tử. Các sư chỉ ăn 2 bữa một ngày, vào buổi sáng sớm và trước giờ Ngọ (12 giờ trưa). Sau 12 giờ trưa cho đến hết đêm nhà sư chỉ được dùng vật lỏng để uống, như nước, sữa, trà… Trong một năm có thời gian do bận việc mùa vụ, Phật tử không được rảnh rỗi thì Ban Quản trị chùa có thể trao đổi với các gia đình Phật tử dâng cúng theo từng ngày nhất định, tránh ngày thì quá nhiều, ngày lại quá ít. Nếu tín đồ bận, các sư có thể nhận thực phẩm do các gia đình dâng cúng, đem về chùa nhờ người nấu.
Đối với người Khmer, các vị sư có vị trí và ảnh hưởng rất lớn. Nhà sư được coi là đại diện cho Đức Phật để truyền dạy và giáo hóa chúng sinh, bởi vậy vị sư luôn là người thầy được tôn kính và tin tưởng. Theo truyền thống từ xa xưa của người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long, tuyệt đại bộ phận người dân theo Phật giáo thuộc hệ phái Nam tông, do đó khi nói đến dân số người Khmer ở Việt Nam cũng đồng nghĩa với việc có thể hiểu đó là số lượng Phật tử, tín đồ Phật giáo (trừ những vị sư đang tu trong chùa được coi là nhà tu hành). Có thể nói, đời sống thường nhật của đồng bào Khmer và Phật giáo Nam tông Khmer không thể tách rời. Các vị sư đến chùa tu đều là con em của đồng bào dân tộc Khmer, chùa là nơi tu hành của các vị sư sãi, là nơi làm lễ của đồng bào, là nơi giáo dục đào tạo dạy chữ, dạy nghề cho con em của đồng bào dân tộc, là trung tâm văn hóa của dân tộc, là bảo tàng lưu giữ các hiện vật từ đồ thờ tế tự, điêu khắc, chạm trổ, ghe ngo (để dùng đua trong các lễ hội dân gian)… đồng thời cũng là nơi thờ cúng những người thân của đồng bào dân tộc Khmer sau khi mất. Sinh hoạt trong gia đình, cộng đồng Phum, Sóc của người Khmer đa phần đều gắn với tín ngưỡng và triết lý của đạo Phật. Các công việc của gia đình cũng như sinh hoạt văn hóa, lễ hội của cộng đồng đều có sự tham dự của các vị sư. Đại bộ phận các ngôi chùa Khmer đã trở thành nơi hội tụ, điểm đến và là nơi sinh hoạt văn hóa của cộng đồng làng xã Khmer Việt Nam.
Năm 1964, Phật giáo Khmer Nam bộ thành lập Hội đoàn kết sư sãi yêu nước khu Tây Nam bộ do Hòa thượng Thạch Som làm Hội trưởng. Tiếp sau đó là các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long lần lượt thành lập, hoạt động. Hội đoàn kết sư sãi yêu nước đã là nơi quy tụ sư sãi, đồng bào, Phật tử Khmer nêu cao tinh thần yêu nước, đấu tranh đòi độc lập dân tộc, chống lại mọi sự xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Phật giáo Nam tông Khmer luôn sát cánh cùng cộng đồng các dân tộc Việt Nam đóng góp sức người, sức của cho kháng chiến đến ngày toàn thắng.
Sau năm 1975, Hội đoàn kết sư sãi yêu nước Tây Nam bộ nói chung và Hội đoàn kết sư sãi yêu nước ở các tỉnh nói riêng vẫn tiếp tục hoạt động, tập hợp sư sãi, đồng bào Phật tử tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, kiến thiết nước nhà. Đến năm 1980, ủng hộ chủ trương chung của lãnh đạo các tổ chức, hệ phái Phật giáo trong cả nước cũng như thể theo ý nguyện của đông đảo Tăng Ni, Phật tử trong cả nước, đại diện Hội đoàn kết sư sãi yêu nước Tây Nam bộ đã tham gia Ban vận động thống nhất Phật giáo trong cả nước. Đến tháng 11/1981, Hội đoàn kết sư sãi yêu nước Tây Nam bộ do Hòa thượng Dương Nhơn làm trưởng đoàn cùng với 8 tổ chức, hệ phái Phật giáo đã thống nhất thành lập một tổ chức chung đại diện cho Tăng Ni, Phật tử Phật giáo Việt Nam ở trong và ngoài nước, lấy tên là Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên, ngay tại Lời nói đầu của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã khẳng định: “Sự thống nhất Phật giáo Việt Nam xây dựng trên nguyên tắc: Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, đồng thời vẫn tôn trọng và duy trì các truyền thống hệ phái cũng như các pháp môn và phương tiện tu hành đúng chính pháp”.
Trong ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, 30 năm qua, Phật giáo Nam tông Khmer tiếp tục có những đóng góp công sức xây dựng Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đất nước Việt Nam vững mạnh và trường tồn, góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa của dân tộc Khmer, làm phong phú thêm truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam, xứng đáng với truyền thống của Phật giáo Việt Nam là một tôn giáo gắn bó, đồng hành cùng dân tộc
3. Phật giáo Nam tông Khmer Nam bộ đồng hành cùng dân tộc trong ngôi nhà chung GHPGVN
Như chúng ta đã biết ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có nhiều đồng bào dân tộc Khmer sinh sống, họ là những tín đồ Phật tử thuần thành của Phật giáo Nam tông Khmer, trong đời sống sinh hoạt tu học và các họat động có liên quan đến xã hội thì các vị sư sãi của Phật giáo Nam tông Khmer cùng với Tăng Ni, Phật tử cả nước đã có nhiều hoạt động nhằm ổn định sinh hoạt Phật giáo, phát huy truyền thống yêu nước gắn bó và đồng hành cùng dân tộc. Đồng thời, tiếp tục khẳng định vai trò của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong xây dựng cuộc sống mới, tham gia tích cực vào các phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động xã hội, từ thiện.
Nhất là việc giữ vững ổn định chính trị xã hội, đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư. Tạo nên một khu vực an ninh tốt, phát triển đời sống, đoàn kết giữa đồng bào Khmer với đồng bào Kinh, Hoa và các tầng lớp nhân dân theo phương châm mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đề ra. Với những thành quả đã đạt được của Phật giáo Nam tông, những nỗ lực cống hiến đóng góp của đồng bào Khmer nói chung, các vị sư sãi và tín đồ Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng là rất đáng ghi nhận.
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đặc biệt đến đời sống của đồng bào Khmer và sinh hoạt của hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer, vì thấy được những khó khăn nhất định về đời sống kinh tế. Sau khi khảo sát, Ban Tôn giáo Chính phủ đã trình Thủ tướng Chính phủ 7 điểm nhằm hỗ trợ Phật giáo Nam tông Khmer, trong đó chú trọng đến khâu tu học của chư tăng và giúp đỡ tín đồ Phật giáo Nam tông. Ban Tôn giáo Chính phủ đã giúp in Đại tạng kinh và kinh nhựt tụng cùng các tài liệu có liên quan phát hành phổ biến cho các nơi, vì cần thiết thông qua kinh sách để hiểu giáo lý của đạo Phật. Kinh sách còn phát huy truyền thống hòa bình nhân ái của Phật giáo, tăng cường tình đoàn kết, hiểu thêm về đất nước con người để xây dựng cuộc sống mới góp phần làm giàu về kinh tế, mạnh về an ninh quốc phòng, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc. Khâu thứ hai là hỗ trợ việc hình thành các trường lớp, tạo điều kiện giúp cho việc tu học của chư tăng và tín đồ Phật tử ngày càng tốt hơn. Các phần còn lại trong 7 điểm cũng đã từng bước tổ chức thực hiện như khắc khuôn dấu mới, cấp chứng điệp thọ giới, chứng nhận tu sĩ cho chư tăng… Trong những năm gần đây, cùng với sự trưởng thành của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đặc biệt ở lĩnh vực giáo dục, Ban Tôn giáo Chính phủ đã trình Thủ tướng và được Thủ tướng quan tâm cho phép thành lập Học viện Phật giáo Nam tông Khmer đặt tại Quận Ô Môn, Tp. Cần Thơ. UBND Tp. Cần Thơ cũng rất quan tâm đến việc này và cấp 11 hecta đất để xây dựng Học viện. Ban Tôn giáo Chính phủ cố gắng thúc đẩy, tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất giúp Học viện Phật giáo Nam tông Khmer sớm đi vào hoạt động. Và trong năm 2011 này đã cấp bằng tốt nghiệp Cử nhân Phật học khóa I (2007 - 2011) cho 62 tăng sinh và khai giảng Khóa II (2011 - 2015) để các sư sãi có điều kiện tu học tốt hơn.
Theo truyền thống của Phật giáo Nam tông Khmer, ngôi chùa không chỉ là nơi sinh hoạt Phật sự mà còn là trung tâm giáo dục cho cộng đồng về đạo đức, văn hóa, sinh hoạt tâm linh. Là một địa chỉ để tụ hội các vị sư sãi và đồng bào Phật tử tiếp nối truyền thống của Phật giáo Nam tông Khmer trong lòng dân tộc; đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, giúp xóa đói giảm nghèo, thực hiện bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, đậm đà bản sắc dân tộc… Vì vậy, Đảng và Nhà nước thường xuyên giúp cho các trường chùa xây dựng cơ sở vật chất phục vụ tu học; hỗ trợ chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer nâng cao trình độ không chỉ thông qua các cơ sở đào tạo trong nước mà còn được đào tạo ở nước ngoài; phát triển mối quan hệ hữu nghị hợp tác trên tinh thần Phật giáo với các quốc gia trong khu vực; tăng cường giao lưu giữa hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer với các hệ phái trong ngôi nhà chung của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; trao đổi cùng giúp nhau phát triển, thắt chặt tình đoàn kết đạo đời, cùng phấn đấu cho sự ổn định và phát triển chung của đất nước, góp phần xây dựng đất nước Việt Nam giàu đẹp, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Với những thành quả đạt được của các cấp Giáo hội trong gần 30 năm qua, không thể không tính đến một khối lượng tu sĩ gần 10.000 người và trên 2 triệu tín đồ Phật tử của Phật giáo Nam tông Khmer trong hệ thống GHPGVN. Qua đó, cho thấy tính thống nhất về mặt tổ chức, lãnh đạo, hành động trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tính đoàn kết hòa hợp của dân tộc Việt Nam nói chung, Phật giáo Việt Nam nói riêng đã có từ hơn 2000 năm nay trên đất nước Việt Nam thân yêu này. Và ngày nay, trong xu thế phát triển bền vững và hội nhập của Đất nước, của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tinh thần đoàn kết hòa hợp cần được phát huy để tạo thành sức mạnh tổng hợp của dân tộc và Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Từ trước đến nay, các sư sãi, tín đồ Phật giáo Nam Tông Khmer đã có nhiều hoạt động tích cực đưa giáo lý, đạo đức, văn hóa của đạo Phật vào cuộc sống góp phần ổn định sinh hoạt Phật giáo, gắn bó, đồng hành cùng dân tộc. Các vị sư Nam tông Khmer gương mẫu vận động nhân dân, bà con Phật tử tương trợ, giúp đỡ nhau nhằm xóa đói giảm nghèo và nhiều gia đình Phật tử đã có mức sống trung bình, khá. Đã và đang xuất hiện những “Triệu phú” người Khmer ở vùng đồng bằng này, đoàn kết cùng đồng bào các dân tộc trong khối đại đoàn kết toàn dân. Những việc làm nêu trên đã thể hiện rõ tinh thần nhập thế của Phật giáo, tăng cường sự gắn kết giữa đạo với đời, khẳng định vị thế của một tôn giáo có truyền thống yêu nước, có bề dày lịch sử và luôn gắn bó đồng hành cùng dân tộc.
Những vấn đề trên luôn được Ban Tôn giáo Chính phủ cùng với Giáo hội Phật giáo Việt Nam và một số ban, ngành các cấp quan tâm, dành nhiều thời gian công sức để thực hiện theo nguyện vọng của chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer. Điều này cho thấy Gíao hội Phật giáo Việt Nam thật sự là chỗ dựa tinh thần cho Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng và cho cả 9 hệ phái Phật giáo anh em nói chung.
Về thành quả đạt được từ năm 1981 đến nay, Phật giáo Nam tông Khmer đã gặt hái được những thành tựu đáng ghi nhận như:
- Phật giáo Nam tông Khmer có tất cả 453 ngôi chùa, trong đó có trên 70% chùa đã được xây dựng, sửa chữa lại khang trang hơn và có gần 10.000 chư tăng tu học.
- Về tăng sự:
* Hòa thượng Danh Nhưỡng được suy tôn Phó Pháp chủ HĐCM Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chứng minh Phân ban Tăng sự đặc trách Phật giáo Nam tông Khmer; Hòa thượng Dương Nhơn – Phó Pháp chủ HĐCM, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Chứng minh Phân ban Tăng sự đặc trách Phật giáo Nam tông Khmer; Hòa thượng Đào Như - Ủy viên Thư ký Hội đồng Trị sự GHPGVN.
* Văn phòng 2 Trung ương tại Tp. HCM đã giúp cho Phật giáo Nam tông Khmer tổ chức nhiều hội thảo, chuyên đề và các cuộc họp đạt kết quả khả quan tại chùa Candarangsây (Chanh Tarangsây).
* Nét mới của Phật giáo Nam tông Khmer là tiến hành bổ nhiệm trụ trì và thành lập Ban Quản trị cho các chùa. Đặc biệt Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thông qua Ban Tôn giáo Chính phủ trợ giúp cho tổ chức Hội nghị chuyên đề Phật giáo Nam tông Khmer tại tỉnh Sóc Trăng, Thành phố Cần Thơ, Bạc Liêu và Kiên Giang… bàn về các giải pháp của Ban Tôn giáo Chính phủ đối với Phật giáo Nam tông Khmer và kiểm điểm đánh giá những ưu điểm, những tồn đọng cần rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu để tổ chức thực hiện trong thời gian tới.
- Về Giáo dục:
Ngày nay, đất nước ta đang trên đà tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thì người dân Khmer Nam bộ cũng không nằm ngoài làn sóng ấy. Người Khmer Nam bộ nhận thức rằng việc học tiếng phổ thông (tiếng Việt) là cần thiết cho nhịp sống mới, cho nền sản xuất công nghiệp để cải thiện đời sống vật chất, thay vì trước đây chỉ chú trọng học tiếng dân tộc mình để gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Chính vì thế, xu hướng học tập được mở rộng, ngày càng phát triển. Vả lại, Đảng và Nhà nước đã mở ra chính sách nâng cao dân trí cho toàn dân nói chung và quan tâm ưu đãi cho con em dân tộc Khmer, nhiều em trở thành học sinh giỏi và vào học cao đẳng, đại học; nhiều em phấn đấu học cao hơn lấy bằng thạc sỹ, tiến sỹ trên mọi lĩnh vực. Về phần Giáo hội Phật giáo Việt Nam cũng rất quan tâm đến việc tu học, sinh hoạt của Phật giáo Nam tông Khmer như tạo điều kiện mở Học viện Phật giáo Nam tông Khmer và đã in ấn nhiều tài liệu kinh sách phân phát cho các chùa. Từ đó, để chư tăng và Phật tử người dân tộc có điều kiện học tập, phát triển kịp với nhịp độ chuyển mình của đất nước và sự phát triển tiến bộ của Phật giáo Việt Nam.
Đối với chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer theo cách đánh giá hàng năm có những tiến triển tích cực cụ thể như hàng chục ngàn con em đồng bào Khmer đến chùa học lớp cơ sở (song ngữ Khmer - Việt) trong những ngày nghỉ hè, hơn 200 lớp sơ cấp Pali, Vini với trên 3.500 sư theo học; 01 Trường Pali Nam bộ mỗi năm thu nhận 50 vị tăng sinh, chương trình học 4 năm. Tại chùa Khleang - Sóc Trăng mở thêm Trường Bổ túc văn hóa Pali Trung cấp Nam bộ với tổng kinh phí trên 28 tỷ đồng. Ban Tôn giáo Chính phủ và Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho ra mắt Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Tp Cần Thơ với số lượng tăng sinh từ 60 đến 100 vị, xúc tiến việc in ấn giáo án, giáo tài và kinh sách đọc tụng cho chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer. Về in ấn kinh sách, tính đến nay đã in ấn và cấp phát được 135.000 đầu sách các loại và in xong mẫu giấy chứng nhận tu sĩ (Tỳ Khưu và Sadi).
- Về Ban Phật giáo quốc tế: Chư Tôn giáo phẩm Phật giáo Nam tông Khmer hiện tham gia vào Ban Phật giáo quốc tế gồm có: Hòa thượng Dương Nhơn tham gia đoàn đi dự Đại hội Phật giáo vì Hòa Bình (ABCP) tại Mông Cổ. Hòa thượng Đào Như cùng Ban Tôn giáo Chính phủ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đi dự Hội nghị về “Tự do tôn giáo” tại Hoa Kỳ hồi tháng 5 năm 2002. Hòa thượng Dương Nhơn trưởng đoàn, Hòa thượng Thạch Sok Xane, Hòa thượng Đào Như tham gia đoàn Giáo hội Phật giáo Việt Nam đi thăm và làm việc chính thức với Giáo hội Phật giáo Campuchia và Giáo hội Liên minh Phật giáo Lào từ ngày 20 đến ngày 28 tháng 10 năm 2005. Sau đó quý ngài cùng với Văn phòng 2 Giáo hội Phật giáo Việt Nam tại Tp HCM tiếp đoàn Giáo hội Liên minh Phật giáo Lào đến thăm Việt Nam tại Hà Nội và Tp HCH từ ngày 20 đến ngày 28 tháng 12 năm 2006. Đặc biệt, vào ngày 22 tháng 3 năm 2011, tại chùa Chăngtarăngsây, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh trọng thể tổ chức lễ đón nhận danh hiệu “Tối thượng chiếu quang chánh pháp sư” do Chính phủ Myanmar, Hội đồng Tăng già Myanmar trao tặng cho Hòa thượng Danh Nhưỡng - Phó Pháp chủ HĐCM Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Viện trưởng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Tp. Cần Thơ và mừng thọ Hòa thượng tròn 83 tuổi.
Đào tạo chư Tăng Phật giáo Nam tông Khmer du học trong và nước ngoài gồm 12 vị. Đã in ấn được 24 đầu kinh sách với hơn 110.000 cuốn phân phối cho các trường lớp và các chùa. Ở lĩnh vực giáo dục, trước đây các chùa chỉ có lớp sơ cấp Pali - Vini nhưng từ ngày thành lập Giáo hội, hệ phái đã mở nhiều lớp từ sơ cấp đến trung, cao đẳng Pali - Vini và Cao cấp Phật học là Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ. Hệ thống giáo dục Phật giáo Nam tông Khmer hiện có hơn 4.500 tăng sinh, phân hiệu Phật giáo Khmer tại các trường Phật học tại địa phương đã có gần 400 tăng sinh tốt nghiệp và gần 500 vị đang theo học, sơ cấp Pali, vini có hơn 1.500 tăng sinh tốt nghiệp và gần 3.000 vị đang theo học, còn lại theo học tại các chùa ở vùng sâu, Học viện Phật giáo Nam tông Khmer có 69 tăng sinh.
- Về văn hóa và nghi lễ:
Về nghi lễ, các hoạt động trong lĩnh vực này được tổ chức khá chu đáo từ lễ khánh kỵ, húy kỵ, lễ tang, lễ tấn phong giáo phẩm và một số lễ hội khác được tổ chức hoành tráng, có sức thu hút lớn.
Về văn hóa, để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, hầu hết các chùa đều được trùng tu sửa chữa, xây dựng thêm kể cả các ngôi chùa ở vùng sâu, các sala được nâng cấp thành chùa, tất cả mô hình kiến trúc đều mô tả được nét đặc thù của truyền thống văn hóa. Các lễ hội như Tết Chôl Chnăm Thmây, Dolta, Dâng y, Oóc - om - boc, Phật đản và các lễ hội truyền thống ngày càng có thêm nhiều loại hình văn hóa phong phú đậm đà bản sắc dân tộc được phát huy. Văn hóa văn nghệ dân gian ngày càng khởi sắc; đời sống sinh hoạt tu học của chư tăng được cải thiện rất nhiều bởi xã hội ngày càng phát triển và cuộc sống của đồng bào dân tộc Khmer được từng bước ổn định. Phật giáo Nam tông Khmer tích cực vận động thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo trong cộng đồng và rất quan tâm đến lĩnh vực trật tự, an toàn xã hội, xây nhà tình nghĩa, cất nhà tình thương, bắt cầu bồi lộ, cung cấp giếng nước sạch, nuôi dưỡng người già neo đơn, vận động thành lập quỹ khuyến học, cứu trợ đồng bào bị thiên tai, hỗ trợ đồng bào nghèo, mở các lớp phổ cập dạy văn hóa cho các em… Nhiều hòa thượng, Phật tử tham gia vào các tổ chức dân cử như Hòa thượng Danh Nhưỡng là đại biểu Quốc hội, một số các vị là Ủy viên chính thức, Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương Đảng các khóa IX, X và XI, là thành viên UBTW MTTQVN và hầu hết đều có tham gia vào tổ chức HĐND, UBMTTQVN và các tổ chức khác của Nhà nước. Nhà chùa theo Phật giáo Nam tông Khmer chính là trung tâm văn hóa luôn thể hiện và giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Đặc điểm của người Khmer gắn liền với Phật giáo, vì các sư đến chùa tu đều là con em của đồng bào Khmer. Chùa là nơi tu hành của các vị sư - là cội nguồn, là nơi làm lễ của đồng bào Khmer với ông - bà, cha - mẹ, là trung tâm văn hóa, là môi trường đạo đức và là nơi giáo dục đào tạo con em của đồng bào Khmer. Đồng thời tổ chức nhiều cuộc lễ kỳ siêu cho anh linh liệt sĩ, đồng bào tử nạn trong chiến tranh, trong thiên tai bệnh tật vào các cuộc lễ lớn tại các các chùa và các nghĩa trang trong vùng đồng bằng sông Cửu Long. Sư sãi và đồng bào Phật tử tiếp tục phát huy tinh thần yêu nước, phụng đạo giúp đời như lịch sử đã từng ghi nhận. Thời kỳ nào cũng có các nhà sư giúp đời, hộ quốc an dân, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp “Hoằng dương chánh pháp, lợi lạc quần sanh”, không ngừng nỗ lực tu dưỡng trí huệ và đạo đức, ra sức thực hiện nghĩa vụ công dân, khắc phục những mặt hạn chế trong việc đạo, việc đời, đề cao tinh thần hòa hợp của Phật giáo, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo, vì mục tiêu “cứu khổ chúng sanh”, hướng đến Chân - Thiện - Mỹ.
Kết luận:
Qua 30 năm hình thành và phát triển, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tự khẳng định vị thế của mình trong lòng dân tộc và cộng đồng thế giới. Thành tựu của các hoạt động Phật sự của GHPGVN, chính là nhờ vào trí huệ tập thể, tập trung dân chủ, tiềm năng và cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động. Hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer đã cùng các hệ phái Phật giáo trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng nhau viết nên những trang sử vàng của Phật giáo Việt Nam trong quá khứ và thời hiện đại, tích cực xây dựng ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng trang nghiêm, phát triển bền vững trên mọi phương diện trong lòng dân tộc.
Nhất là việc chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer phát huy truyền thống yêu nước trong suốt chiều dài lịch sử luôn cùng các dân tộc anh em phát huy truyền thống yêu nước, lập nên những kỳ tích lịch sử trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu; đoàn kết hòa hợp để hướng dẫn đồng bào Phật tử Khmer nêu cao ý thức phục vụ đạo pháp và dân tộc; cùng nhau giúp đỡ đồng bào Khmer phát triển về mọi mặt, góp phần làm cho kinh tế xã hội của đất nước không ngừng phát triển bền vững; đồng thời phát huy vai trò là thành viên sáng lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, là thành viên đáng tin cậy trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer cùng các hệ phái Phật giáo trong hệ thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đã tích cực đưa Đạo Phật đi vào cuộc đời bằng chính trái tim, khối óc của dân tộc Việt Nam, góp phần không nhỏ trong sự nghiệp thống nhất Phật giáo Việt Nam năm 1981, mở ra một kỷ nguyên mới với một tổ chức Giáo hội duy nhất, đại diện cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước theo tiêu chí “thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức”, thực hiện các hoạt động Phật sự theo phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Phan An, Nguyễn Xuân Nghĩa (1984), Dân tộc Khmer trong các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía Nam), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 91-97 tr.
[2]. Phan An (1995), Cơ chế quản lý xã hội truyền thống phum, sóc của người Khmer Nam Bộ trong làng xã ở Châu Á và Việt Nam - Viện KHXH tại Tp. Hồ Chí Minh, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 195-200 tr.
[3]. Phan An (1984), Một số vấn đề kinh tế-xã hội của vùng nông thôn Khmer Đồng bằng sông Cửu Long (Vấn đề dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr 109-169.
[4] Ban Tư tưởng văn hoá trung ương (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, Ban Tư tưởng văn hoá trung ương, Hà Nội, 306 tr.
[5]. Nguyễn Chí Bền (1991), Lễ hội và nguồn gốc dân gian Khmer, Tạp chí Văn hóa - nghệ thuật, số 05, tr 41.
[6]. Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường (1990), Văn hoá và cư dân Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 452 tr.
[7]. Bộ Chính trị (1998), Nghị quyết Trung ương 5 về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Hà Nội.
[8]. Nguyễn Khắc Cảnh (1997), Chùa Khmer Nam Bộ tỉnh Sóc Trăng - một công trình nghệ thuật kiến trúc độc đáo, Tập san Khoa học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, số 01.
[9]. Nguyễn Khắc Cảnh (2000), Sự hình thành cộng đồng Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long, (Văn hóa Nam Bộ trong không gian xã hội Đông Nam Á), Nxb Đại học Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh, tr 217 - 229.
[10]. Đoàn Trung Còn (2001), Lịch sử nhà Phật, Nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 251tr.
[11]. Nguyễn Xuân Diệu (2000), Góp phần tìm hiểu về mối quan hệ và sư giao lưu văn hóa giữa các tộc người Việ t- Khmer - Hoa ở Sóc Trăng trong tiến trình phát triển, Tài liệu hội thảo khoa học lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Sóc Trăng trước năm 1945, tr 143 - 147.
[12]. Trần Kim Dung (2000), Văn hóa truyền thống của người Khmer Đồng bằng sông Cửu Long trong cuộc sống hiện nay, (Văn hóa Nam Bộ trong không gian xã hội Đông Nam Á), Nxb Đại học Quốc gia, Tp. Hồ Chí Minh, tr 229-241.
[13]. Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (2006), Đồng bằng sông Cửu Long: Thực trạng và giải pháp để trở thành vùng trọng điểm phát triển kinh tế giai đoạn 2006-2010, Nxb Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh, 578 tr.
[14]. Đảng cộng sản Việt Nam, Chỉ thị 68/CP-TW - công tác ở vùng đồng bào Khmer.
[15]. Thu Giang, Nguyễn Duy Cần (1999), Phật học tinh hoa, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 311 tr.
[16]. Sơn Phước Hoan (1998) (chủ biên), Lễ hội truyền thống của đồng bào Khmer Nam Bộ, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 143 tr.
[17]. Võ Thành Hùng- Nghi lễ Vòng đời người Khmer tỉnh Sóc Trăng – 2011, Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER
TRONG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Nguyễn Đức Dũng[23]
Ngô Quang Thắm[24]
Lê Thị Huyền[25]
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Những vấn đề chung về dân tộc Khmer
Theo tác giả Lê Hương, trong Lời nói đầu cuốn Sử liệu Phù Nam (1974): "Nam bộ xưa kia có nguồn gốc từ “Phù Nam là một vương quốc thành lập từ thế kỷ XII trước Dương lịch, theo sử Trung Hoa, và có thể lập quốc nhiều thế kỷ trước thời ấy. Nhưng theo các nhà khảo cổ Tây phương thì căn cứ vào những chứng tích xác thực như bia đá, bản văn khắc trên cột đền vách thành, những đoạn sử, những di vật tìm thấy trong lòng đất, Vương quốc này được xếp vào lịch sử thế giới bắt đầu từ thế kỷ I sau Thiên Chúa giáng sinh. Trải qua một thời kỳ cực thịnh từ thế kỷ III đến thứ V, Phù Nam bị vương quốc Chân Lạp xâm chiếm và tiêu diệt vào cuối thế kỷ thứ VI. Trên bản đồ Phù Nam bị xóa hẳn tên, đến thế kỷ XVII các quốc vương Chân Lạp nhường cho Việt Nam để trả ơn bảo hộ ngai vàng. Từ đó một phần lớn đất Phù Nam trở thành miền Nam Việt Nam ngày nay”[26] (Lê Hương, 1974, trang 5).
Như vậy, vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung, Tây Nam bộ nói riêng là vùng đất mới đối với lịch sử lâu đời của nước Việt Nam. Tuy lịch sử hình thành tương đối phức tạp, nhưng chính vùng đất này lại là vùng đất hứa, là niềm hy vọng của bao lớp cư dân vì nhiều lý do khác nhau đã đến đây để sinh cơ lập nghiệp, mưu cầu cuộc sống mới ấm no, hạnh phúc hơn. Các thế hệ người Khmer cùng với các tộc người anh em khác đã chung lưng đấu cật khai phá và bảo vệ vùng đất này, làm nên những kỳ tích trong cuộc kháng chiến chống xâm lược cũng như trong xây dựng hòa bình.
Tuy Nam bộ là vùng đất non trẻ, có lịch sử khá phức tạp, nhưng lại có nhiều đặc trưng về văn hóa của vùng đất mới, như có nhà nghiên cứu đã nhận xét: "Khi nghiên cứu về người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long với tư cách là một trong những chủ thể của một vùng văn hóa lịch sử, ngoài những nội dung liên quan đến một vùng cụ thể tức khu vực học có một số vấn đề cần được quan tâm đến. Những vấn đề đó thường có tính đặc thù của vùng đồng bằng sông Cửu Long làm nên sắc thái của một vùng văn hóa, chi phối sâu sắc đến các yếu tố văn hóa, đến sự phát triển kinh tế - văn hóa, xã hội của cả khu vực cũng như của từng cộng đồng dân cư sinh sống trên vùng đất Nam bộ..., đồng bằng sông Cửu Long là nơi hội tụ của các nền văn hóa. Do vị trí địa lý của mình mà vùng đất này từ lâu đã là nơi giao lưu, hội tụ của các nền văn minh khác nhau. Nằm trên trục giao lưu quan trọng, người dân mở rộng giao lưu buôn bán với các vùng khác và cũng luôn mở cửa để đón nhận những yếu tố văn hóa du nhập từ ngoài vào. Cũng do quá trình tiếp xúc thường xuyên với thế giới bên ngoài nên đã xảy ra quá trình hỗn dung văn hóa”[27]. Lịch sử hình thành vùng đất và sự phong phú của đời sống văn hóa tinh thần, nên Phật giáo Theravada của người Khmer ở Tây Nam bộ cũng có những nét riêng, khác với các tôn giáo, tín ngưỡng khác.
I.2. Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở miền Tây Nam bộ
I.2.1. Đặc điểm tín ngưỡng, tôn giáo
Đồng bằng Sông Cửu Long là một Tiểu vùng nằm khu vực bán đảo, còn gọi là Tiểu vùng Tây Nam bộ, một vùng đất mới được khai phá, có điều kiện tiếp xúc với các nền văn hóa như Trung Quốc, Ấn Độ và cả Đông Nam Á, và là nơi cộng cư của nhiều cư dân từ các nơi khác đến sinh sống, như người Việt, Hoa, Khmer và Chăm. Các nhóm người này đến lập nghiệp ở vùng đất mới này đã mang theo những phong tục tập quán, văn hoá, tín ngưỡng của vùng quê cũ làm cho đời sống văn hóa, tín ngưỡng của người Nam bộ nói chung và Tây Nam bộ nói riêng rất đa dạng, phong phú, cụ thể là: Người Khmer Tây Nam bộ theo Phật giáo Nam tông; người Việt theo Phật giáo Bắc tông, chủ yếu là phái Thiền và Nho giáo, đã được du nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam từ lâu đời; người Hoa đến khai phá vùng đất mới này, mang trong mình một tôn giáo mới đó là đạo Minh sư, sau này đã phát triển thành Ngũ chi Minh đạo với những tục cầu cơ, cầu hồn; một bộ phận người Chăm hồi hương từ Campuchia về sinh sống tại Tây Nam bộ, mang theo tín ngưỡng của đạo Islam.
Năm 1858, thực dân Pháp chính thức xâm lược nước ta, sau khi triều đình nhà Nguyễn ký tiếp Hiệp ước nhường toàn bộ Nam bộ cho thực dân Pháp, Nam bộ đã chính thức tiếp xúc với nền văn hóa phương Tây, với những tập tục Thông linh học của phương Tây, đạo Công giáo là một tôn giáo đã du nhập và phát triển ở nước ta từ lâu đời, và đầu thế kỷ 20 đạo Tin Lành chính thức có mặt tại Việt Nam.
Trên cơ sở đặc điểm của sự hỗn dung về văn hóa, tín ngưỡng phương Đông lẫn phương Tây, khu vực Tây Nam bộ đã sản sinh ra nhiều tôn giáo bản địa, như Bửu Sơn Kỳ Hương do ông Đoàn Minh Huyên sáng lập năm 1849; Tứ Ân Hiếu Nghĩa hay còn gọi là Đạo Lành do ông Ngô Lợi sáng lập vào năm 1867; đạo Cao Đài do ông Ngô Minh Chiêu sáng lập vào năm 1926; Phật giáo Hòa Hảo do ông Huỳnh Phú Sổ sáng lập năm 1939. Với sự kết hợp đặc sắc của văn hoá phương Đông và phương Tây với những tục cầu cơ, chấp bút của đạo Minh sư và Thông linh học phương Tây; bên cạnh đó, do ảnh hưởng của Phật giáo Mật tông mà trong quần chúng còn sản sinh ra những tục đồng bóng, bói toán và tục Arak của người Khmer...
I.2.2. Đặc điểm Phật giáo Nam tông Khmer ở Tây Nam bộ
Đối với đồng bào dân tộc Khmer, giữa dân tộc và tôn giáo là một, luôn có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Quan niệm của đại bộ phận đồng bào, khi sinh ra đều xem mình là tín đồ, Phật giáo Nam tông Khmer. Họ đến với chùa chiền bằng tất cả tấm lòng thành kính, cả cuộc đời họ, luôn gắn bó với Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng). Chùa Khmer vừa là trung tâm sinh hoạt văn hóa, lễ hội truyền thống, dạy chữ Khmer cho con em đồng bào, nơi bàn bạc giải quyết các công việc của cộng đồng, vừa là nơi thờ cúng tổ tiên, "sống gửi của, chết gửi hài cốt".
Chức sắc Phật giáo Nam tông Khmer phần lớn xuất thân từ nông dân lao động, là lớp người trí thức, đại diện cho dân tộc, có vai trò to lớn trong đời sống tinh thần của đồng bào Khmer, am hiểu phong tục, tập quán, cuộc sống của Sư sãi luôn gần gũi, gắn bó với quần chúng. Việc đi tu của thanh niên Khmer vừa là nghĩa vụ, vừa là vinh dự, đồng bào Khmer xem Sư sãi là hiện thân của Đức Phật nên rất kính trọng, tin tưởng gửi gắm tình cảm, bày tỏ tâm tư, nguyện vọng, tin, nghe và làm theo sự chỉ dẫn của chức sắc và sư sãi. Ngoài ra, đồng bào Khmer còn tin ở các tín ngưỡng Neak Tà, Arak và các lễ nghi dân gian cùng với hệ thống lễ hội truyền thống như Lễ vào năm mới (Chol chnam thmây), lễ cúng ông bà (Đôn-ta), lễ đưa nước (Ok om bok)... đã hòa nhập và quyện chặt với các sinh hoạt tôn giáo của người Khmer.
I.2.3. Mối quan hệ dân tộc, tôn giáo của người Khmer vùng Tây Nam bộ với các nước trong khu vực
Người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Kiên Giang nói riêng, có quan hệ chặt chẽ với người Khmer ở Campuchia đó là quan hệ thân tộc, đồng tộc vốn có từ lâu đời trên cơ sở cùng chung tiếng nói, ngôn ngữ, chữ viết, tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo... Do đặc điểm địa lý Việt Nam có đường biên giới với Campuchia dài hàng trăm km và có nhiều đường tiểu ngạch qua lại biên giới thuận tiện, chính vì vậy người Khmer sống ở giáp ranh biên giới thường qua lại làm ăn, buôn bán, dựng vợ gả chồng... làm cho quan hệ giữa người Khmer ở Việt Nam và người Khmer ở Campuchia ngày càng chặt chẽ hơn. Cũng chính vì vậy, mọi diễn biến chính trị ở Campuchia đều có ảnh hưởng tác động trực tiếp đến người Khmer Nam bộ và ngược lại.
II. Một số vấn đề về phật giáo Nam tông Khmer
II.1. Về chính sách của Nhà nước đối với tín đồ Phật giáo Nam tông Khmer vùng Tây Nam bộ
Do đặc điểm người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long đều theo Phật giáo Nam tông Khmer, họ sống quần cư xung quanh ngôi chùa (nơi diễn ra các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng,... của dân tộc Khmer). Vì thế, để thực hiện tốt chính sách của Nhà nước đối với tín đồ Phật giáo Nam tông Khmer, cũng chính là chính sách đối với dân tộc Khmer, cho nên cần quan tâm đến những vấn đề như sau:
- Đẩy mạnh, thực hiện có hiệu quả các chương trình 135, 134, phát triển kinh tế, xã hội ở vùng đồng bào dân tộc, nhằm nâng cao đời sống, làm giảm tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Khmer, từng bước thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu, nghèo giữa đồng bào Khmer với đồng bào các dân tộc anh em, trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.
- Ở những phum, sóc, địa bàn có đông đồng bào dân tộc Khmer, cần coi trọng việc đầu tư xây dựng cơ sở thờ tự, nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo trong đồng bào dân tộc Khmer.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho các chùa Khmer được tổ chức dạy và học các lớp Kinh, Luật, Giới và chữ Pali sơ cấp.
- Nhà nước cần đầu tư kinh phí hỗ trợ việc duy trì các lớp dạy chữ Khmer trong các điểm chùa Khmer cho con em đồng bào dân tộc.
- Hỗ trợ kinh phí để xây dựng lò hỏa táng ở các chùa trung tâm.
- Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Khmer, góp phần làm đa dạng, phong phú nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.
II.2. Hội đoàn kết Sư sãi Nam tông Khmer
Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước (viết tắt là Hội ĐKSSYN) của Phật giáo Nam tông Khmer ra đời trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, là thành viên của Mặt trận Dân tộc giải phóng của các tỉnh có Phật giáo Nam tông Khmer. Nhiệm vụ của Hội lúc bấy giờ là tuyên truyền, vận động, tập hợp, đoàn kết các vị sư sãi có tinh thần yêu nước vào tổ chức, nhằm đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Đồng thời Hội ĐKSSYN làm đối trọng với tổ chức Mêkol, trong hệ phái Phật giáo Theravada (Phật giáo nguyên thủy), bị Mỹ, Ngụy lũng đoạn lợi dụng, đàn áp phong trào yêu nước trong đồng bào dân tộc Khmer. Sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước, Hội ĐKSSYN của Phật giáo Nam tông Khmer vẫn tiếp tục được duy trì hoạt động, với nhiệm vụ vận động, tuyên truyền, giáo dục sư sãi thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, đưa khoa học kỹ thuật vào vùng đồng bào dân tộc, góp phần phát triển kinh tế xã hội trong đồng bào dân tộc Khmer...
Từ năm 1981 đến nay, các hệ phái Phật giáo đã thống nhất trong ngôi nhà chung giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hệ thống tổ chức của Giáo hội, gồm 4 cấp, Trung ương: có Hội đồng Trị sự; cấp tỉnh: có Ban Trị sự; cấp huyện: có Ban Đại diện; cấp cơ sở: có chùa, tịnh xá, tịnh thất, niệm phật đường. Trong sinh hoạt giữa hai hệ phái Nam tông Khmer và Bắc tông của người Việt trong thời gian qua bộc lộ nhiều vấn đề bất cập do sự khác nhau trong ăn, nghỉ, đọc kinh, Đại giới đàn, an cư kiết hạ... Từ đó Phật giáo Nam tông Khmer phần lớn sinh hoạt gắn bó với Hội đoàn kết sư sãi nhiều hơn là Ban Trị sự tỉnh hội Phật giáo. Sư sãi Nam tông Khmer xem tổ chức của Hội, gần như là một tổ chức của Giáo hội, nên mọi hoạt động như thuyên chuyển, tổ chức Đại giới đàn - thọ giới tỳ khưu, phong phẩm, kỷ luật, đào tạo sư sãi… đều do Hội ĐKSSYN xem xét quyết định. Việc tham gia họp Ban Trị sự tỉnh hội, chủ yếu giải quyết việc của Phật giáo Bắc tông, do không hiểu hết tập quán của mỗi hệ phái nên tình hình nội bộ giữa Bắc tông và Nam tông đôi lúc dẫn đến hiểu nhầm đáng tiếc.
Từ tình hình trên, đề nghị Nhà nước nếu còn duy trì tổ chức Hội đoàn kết Sư sãi yêu nước như hiện nay, cần hướng dẫn cho tổ chức này hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ của Điều lệ Hội, không nên để hoạt động của Hội vừa là tổ chức Hội, đồng thời là tổ chức của Giáo hội dẫn đến phát sinh mâu thuẫn trong nội bộ Phật giáo.
II.3. Nghiên cứu xây dựng chính sách đối với đội ngũ chức sắc, nhà tu hành Phật giáo Nam tông trong vùng đồng bào dân tộc Khmer Tây Nam bộ
Chức sắc phật giáo Nam tông Khmer là tầng lớp trí thức, đại diện cho dân tộc, có vai trò to lớn và ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống tinh thần của đồng bào Khmer, vì thế cần nghiên cứu thực hiện tốt chính sách đối với đội ngũ chức sắc Phật giáo Nam tông Khmer, như:
- Đối với các vị chức sắc phẩm từ Thượng tọa trở lên có ảnh hưởng lớn trong quần chúng tín đồ, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ kinh phí để mua bảo hiểm y tế cho họ, nhằm kịp thời động viên sự đóng góp của họ trong sự nghiệp Đạo pháp và Dân tộc.
- Cần có kế hoạch, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chức sắc trẻ trong Phật giáo Nam tông Khmer, đáp ứng nhu cầu về lâu dài trong sinh hoạt tôn giáo của đồng bào.
II.4. Nghiên cứu xây dựng chính sách hỗ trợ sửa chữa, làm mới cơ sở thờ tự, đồ dùng việc đạo của Phật giáo Nam tông Khmer
Thực hiện chính sách tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc dân tộc Khmer, những năm qua tỉnh Kiên Giang đã hỗ trợ việc xây dựng, trùng tu sửa chữa chùa, với kinh phí hàng tỷ đồng từ nguồn ngân sách Nhà nước, từ đó, nhiều chùa đã được xây dựng khang trang hơn, đáp nhu cầu sinh hoạt của chức sắc, nhà tu hành và đồng bào Phật tử. Tuy nhiên, vẫn còn một số chùa sử dụng kinh phí sửa chữa chưa thật hiệu quả, một số chùa trong xây dựng, sửa chữa chưa thực hiện đúng quy định về thủ tục xây dựng cơ bản.
Để tiếp tục thực hiện tốt chính sách tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc Khmer, trong thời gian tới cần khảo sát thực tế ở các cơ sở chùa chiền để có chính sách hỗ trợ phù hợp, cụ thể như sau:
- Hỗ trợ cho các chùa di tích, chùa có công trong kháng chiến, mà tín đồ xung quanh khu vực chùa còn nghèo, không có điều kiện để sửa chữa cơ sở thờ tự.
- Hướng dẫn thực hiện đầy đủ các thủ tục hành chính về xây dựng cơ bản, đảm bảo chất lượng công trình phục vụ sinh hoạt tôn giáo.
II.5. Chính sách đối với kinh sách của Phật giáo Nam tông Khmer Tây Nam bộ
Phật giáo Nam tông Khmer Tây Nam bộ nói chung, tỉnh Kiên Giang nói riêng, đã có nhiều hoạt động trong việc giáo dục giáo lý cho chức sắc, nhà tu hành và đồng bào Phật tử, nhưng cùng với thời gian số kinh sách cũ đã bị thất lạc, rách nát, không còn đủ để đáp ứng nhu cầu tu học của chức sắc, nhà tu hành. Những năm qua, tỉnh đã quan tâm tạo điều kiện hỗ trợ cho Ban Trị sự Tỉnh hội nhập về 27 bộ Tam Tạng kinh từ Campuchia, nhận của Ban Tôn giáo Chính phủ hỗ trợ 25.510 quyển kinh sách.
Để tạo điều kiện thuận lợi trong việc tu, học, đối với những chùa hiện chưa đảm bảo kinh sách thì tiếp tục xem xét, tạo điều kiện cho in ấn thêm kinh sách, đặc biệt là Tam Tạng kinh, để đáp ứng nhu cầu tu học của tu sỹ và đồng bào Phật tử Nam tông Khmer.
II.6. Việc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống của Phật giáo Nam tông vùng đồng bào dân tộc Khmer Tây Nam bộ
Để tiếp tục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá của đồng bào dân tộc Khmer, cần nghiên cứu hỗ trợ cho đồng bào Khmer, một số vần đề sau:
- Tạo điều kiện cho các chùa tổ chức các lớp dạy chữ Khmer, để duy trì chữ viết của đồng bào dân tộc.
- Hỗ trợ cho các chùa xây dựng các lò hỏa táng, phục vụ nhu cầu tang tế của đồng bào.
- Nâng cao chất lượng dạy và học các trường Dân tộc nội trú ở vùng đông đồng bào dân tộc.
- Tạo điều kiện để các chùa có được ghe Ngo và dàn nhạc Ngũ âm, phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí của đồng bào.
II.7. Nghiên cứu bổ sung chính sách bảo đảm bình đẳng, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ, đối với dân tộc Khmer vùng Tây Nam bộ
Đồng bào dân tộc Khmer vùng Tây Nam bộ là một bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Những năm qua, thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tỉnh đã triển khai nhiều dự án, hỗ trợ phát triển đời sống của đồng bào dân tộc Khmer, để theo kịp với sự phát triển chung của tỉnh và các vùng miền trong cả nước. Tuy nhiên, sự vươn lên trong một số vùng đồng bào dân tộc Khmer không đồng đều, tỷ lệ hộ nghèo còn cao so với cộng đồng.
Để đảm bảo sự công bằng xã hội, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, thời gian tới cần nghiên cứu thực hiện thêm một số chính sách sau:
- Tiếp tục thực hiện chính sách về nhà ở, cung cấp nước sạch cho đồng bào.
- Triển khai thực hiện thêm một số công trình phúc lợi xã hội như cầu, đường, trường, trạm, phục vụ nhu cầu sinh hoạt của đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
- Khai thác, triển khai và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào việc phát triển đời sống kinh tế của đồng bào.
- Huy động 90% trở lên trẻ em dân tộc Khmer đi học.
- Thực hiện tốt Quy chế dân chủ, trong vùng đồng bào dân tộc khmer được biết, được bàn, được kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước ở vùng đồng bào dân tộc.
II.8. Nghiên cứu khai thác và xây dựng hệ thống tài liệu tuyên truyền, giáo dục trong vùng đồng bào Khmer Tây Nam bộ
Để tiếp tục nâng cao hơn nữa trong nhận thức, cần nghiên cứu, xây dựng một hệ thống tài liệu tuyền truyền, giáo dục trong đồng bào, như:
- Tiếp tục tuyên truyền, nâng cao nhận thức về lịch sử vùng đất Tây Nam bộ, để họ nhận thức được về nguồn gốc, cội nguồn. Đây là tài tiệu quan trọng trong việc tuyên truyền giáo dục con em đồng bào dân tộc, cần có tài liệu phiên dịch bằng tiếng dân tộc, để tuyên truyền vào các điểm chùa, nơi đồng bào có điều kiện học tập.
- Các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cần được phiên dịch sang tiếng Khmer, để tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân.
- Có tài liệu thống nhất bằng tiếng Khmer trong việc đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phát triển đời sống của đồng bào.
- Cần nâng thời lượng phát sóng chương trình phát thanh, truyền hình với những nội dung phong phú, đa dạng hơn, góp phần nâng cao hơn nữa nhận thức của đồng bào dân tộc Khmer.
- Cần có hệ thống sách giáo khoa chính thống của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong dạy và học chữ Khmer.
II.9. Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần nghiên cứu xây dựng chính sách về hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer
Phật giáo Nam tông Khmer là một trong những tổ chức hệ phái, thành viên sáng lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Tuy nhiên hiện nay, chưa có tổ chức trực thuộc Giáo hội PGVN đặc trách hệ phái Nam tông Khmer, do đó vai trò của hệ phái Phật giáo Nam tông Khmer trong ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam mờ nhạt, chưa tương xứng với vị trí của nó. Trong khi lịch sử Phật giáo Nam tông Khmer đã từng có cả hai hệ thống tổ chức Giáo hội từ Trung ương đến tận cơ sở (hệ thống Phật giáo Theravada và Khêmaranikay).
Do đặc điểm biệt truyền của Phật giáo Nam tông Khmer, đề nghị Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập tổ chức đặc trách Phật giáo Nam tông Khmer trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam, từ cấp Trung ương, đến cấp tỉnh, cấp huyện để tạo điều kiện thuận lợi cho việc sinh hoạt và hoạt động của Phật giáo Nam tông.
II.10. Nghiên cứu xây dựng chính sách về dân tộc Khmer và Phật giáo Nam tông Khmer miền Tây Nam bộ Việt Nam trong mối quan hệ với Phật giáo Nam tông Cămpuchia
Để tạo điều kiện cho mối quan hệ của đồng bào người Khmer và Phật giáo Nam tông Khmer vùng Tây Nam bộ - Việt Nam có mối quan hệ đoàn kết, hữu nghị cùng có lợi với người Khmer và Phật giáo Nam tông Khmer ở Campuchia, cần nghiên cứu thực hiện một số chính sách sau:
- Hướng dẫn chức sắc, nhà tu hành Phật giáo Nam tông Khmer Tây Nam bộ, thực hiện quan hệ đối ngoại với Phật giáo Nam tông ở Campuchia phải đúng quy định của pháp luật và chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta và theo truyền thống sơn môn của Phật giáo Nam tông.
- Không xem Phật giáo Campuchia và Phật giáo Nam tông Khmer Tây Nam bộ có cùng một tổ chức Giáo hội, mà mỗi nước có hệ thống tổ chức Giáo hội riêng, quan hệ với nhau trên tinh thần hữu nghị theo nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, các bên cùng có lợi, phù hợp với pháp luật mỗi bên và thông lệ quốc tế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Lê Hương. Sử liệu Phù Nam. 1974. Sài Gòn. Nguyên Nhiều.
2. Ngô Văn Lệ. Các tôn giáo bản địa và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa của người Việt Nam bộ. Tháng 10/2008. Tham luận tại Hội nghị Thông báo kết quả nghiên cứu KHXH Nam bộ. Tp. HCM.
PHẬT GIÁO NAM TÔNG KHMER SAU 30 NĂM
TRONG NGÔI NHÀ CHUNG GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Lê Khánh
Vụ Phật giáo – Ban Tôn giáo Chính phủ
Năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) được thành lập, đánh dấu một mốc son, bước phát triển mới trên chặng đường lịch sử của Phật giáo Việt Nam, đó là hình thành lên một ngôi nhà chung cho Phật giáo Việt Nam trên nguyên tắc đảm bảo thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, đồng thời vẫn tôn trọng và duy trì các truyền thống hệ phái, cũng như các pháp môn và phương tiện tu hành đúng chính pháp.
Hòa chung việc thực hiện ước vọng, ý nguyện của các bậc cao Tăng, thạc đức đi trước và thể theo nguyện vọng của đại đa số Tăng, Ni, Phật tử trên toàn quốc, với tư tưởng Phật giáo Việt Nam muốn có được sức mạnh thật sự cần phải hoà hợp cùng nhau trong một tổ chức để phát huy văn hoá truyền thống của Phật giáo và góp phần giữ gìn hoà bình, an lạc cho dân tộc mà các cuộc vận động thống nhất Phật giáo trước đây (năm 1951, năm 1957 - 1958 và 1964) chưa làm được (đã thành lập được các tổ chức Phật giáo, nhưng chỉ mang ý nghĩa thống nhất của một số tổ chức, hệ phái, đại diện của một miền hay một vùng bị tạm chiếm). Ngay từ buổi ban đầu để thành lập lên GHPGVN, Phật giáo Nam tông Khmer (PGNT Khmer) với đại diện là Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước Tây Nam bộ đã cử đại diện tham gia Ban Vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam và trở thành một thành viên, một trong chín tổ chức, hệ phái sáng lập nên GHGPVN, cùng hòa nhập trong Giáo hội cả nước.
Trải qua 30 năm trong ngôi nhà chung GHGPVN, với chỗ dựa tinh thần là GHPGVN, PGNT Khmer đã tự khẳng định vị thế, sự phát triển của mình trong khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, đóng góp và phát huy không nhỏ vai trò của mình vào những thành tựu mà GHPGVN đã đạt được nói riêng, của Phật giáo Việt Nam nói chung, đảm bảo nguyên tắc: thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, đồng thời vẫn duy trì được truyền thống tu học biệt truyền của hệ phái. Điều đó được biểu hiện sinh động qua nhiều hoạt động tích cực, cụ thể, những thành quả đáng ghi nhận trong hoạt động Phật sự của Hệ phái PGNT Khmer.
- 1. Về Tăng sự và tổ chức
Phật giáo Nam tông Khmer hiện có gần 10 nghìn vị sư sãi, chiếm 1/4 số Tăng, Ni Phật giáo ở Việt Nam; 455 ngôi chủa ở 14 tỉnh, thành trong cả nước[28]. Đại đa số chùa đã được trùng tu, sửa chữa lại khang trang, to đẹp hơn, nhiều ngôi chùa được xây mới sau ngày giải phóng miền Nam năm 1975 (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, tỉnh Sóc Trăng…), nhiều ngôi chùa được khôi phục lại khi chỉ còn tàn tích do chiến tranh và thời gian gây ra. Đây là thời kỳ, PGNT Khmer có số lượng chùa khang trang hơn bao giờ hết, qua đó, khẳng định rõ sự phát triển mạnh về cơ sở vật chất của PGNT Khmer (năm 1979 có 419 chùa, năm 1997 có 434 chùa, năm 2007 có 452 chùa), đáp ứng niềm tự hào về bản sắc văn hóa dân tộc qua hình tượng ngôi chùa của đồng bào Khmer. Đại đa số các chùa đã được phép khắc con dấu riêng.
Bên cạnh đó, cơ cấu nhân sự đối với PGNT Khmer luôn được GHPGVN quan tâm, hài hòa giữa các hệ phái. Ngay từ khi thành lập GHPGVN, các vị Giáo phẩm cao cấp hệ phái Nam tông Khmer đã được Hội nghị thống nhất Phật giáo suy tôn, suy cử vào Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự GHPGVN, giữ các cương vị: Phó Pháp chủ, Phó Chủ tịch, một số vị khác là Thường trực Trung ương GHPGVN. Số lượng người tham gia nhân sự các cấp Giáo hội ngày càng tăng qua các nhiệm kỳ, tại Đại hội nhiệm kỳ VI (2007 – 2012), 30 Tôn đức PGNT Khmer đã được Đại hội Phật giáo toàn quốc suy tôn vào ngôi vị Phó Pháp chủ, thành viên Hội đồng Chứng minh; suy cử vào cương vị Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Uỷ viên Thường trực, Uỷ viên HĐTS; cung cử vào các Ban, ngành, Viện Trung ương, cũng như giữ nhiều chức vụ quan trọng trong GHPGVN các cấp. Hàng trăm chư tôn được tấn phong giáo phẩm Hoà thượng, Thượng toạ.
Nét mới của PGNT Khmer là tiến hành bổ nhiệm trụ trì và thành lập Ban Quản trị cho các chùa. Tính đến 2010, 100% các chùa Khmer đã được bổ nhiệm và hợp thức hóa Trụ trì, 442/455 chùa có Ban Quản trị chùa.
- 2. Về lĩnh vực giáo dục
Ở đồng bào Khmer, Giáo dục trường chùa đã trở thành tập quán, là chức năng chính (có thời) của chùa đối với đồng bào Khmer, nhiều thời (nhất là thời kỳ phong kiến) trường chùa là nơi duy nhất cung cấp kiến thức cho trẻ em, cho đồng bào Khmer. Trước năm 1975, với âm mưu đồng hoá dân tộc Khmer, đã có một thời chế độ Sài Gòn cũ bài xích Phật giáo Khmer, cấm dạy chữ Pali, ai dạy chữ Pali bị đuổi ra khỏi chùa… Tuy nhiên trường chùa - nền giáo dục văn hoá của PGNT Khmer cũng có những hạn chế nhất định, những nội dung giáo dục một thời mang tính tích cực, nhưng khi xã hội phát triển với những yêu cầu mới, nhiều nội dung lại chưa được điều chỉnh kịp thời…
Nắm bắt được thực tế đó, PGNT Khmer dưới sự giúp đỡ của Trung ương GHPGVN và các cấp chính quyền đã nhanh chóng, từng bước bổ sung những nội dung tích cực trong đào tạo sư sãi của hệ phái và góp phần giáo dục trong đồng bào Khmer phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước, nhưng vẫn giữ được nét truyền thống mang sắc thái riêng của đồng bào dân tộc Khmer và hệ phái PGNT Khmer. Tính đến nay, PGNT Khmer đã có một hệ thống đào tạo chức sắc tương đối bài bản so với các thời kỳ trước, đã thành lập được các Trường từ Sơ cấp, Trung cấp Phật học chuyên đào tạo các sư Khmer. Khả quan và đáng khích lệ nhất là việc thành lập Học viện PGNT Khmer cách đây 04 năm, hiện nay Học viện này đã hoàn tất chương trình khóa học đầu tiên với 62 sư sãi tốt nghiệp và đang đào tạo năm đầu của khóa II, với 30 sư sãi theo học. Không những thế, nhằm nâng cao trình độ Phật học và thế học, đào tạo nguồn nhân lực kế thừa, hàng năm đã có rất nhiều chư Tăng Khmer học ở các Trường Đại học trong nước, du học ở Thái Lan, Myanmar, Ấn Độ, Campuchia như năm 2010 tỉnh Trà Vinh có 59 vị, Vĩnh Long có 14 vị, Sóc Trăng có 05 vị, Kiên Giang có 03 vị…
Bên cạnh đó, các lớp dạy tiếng Khmer, Pali, Vini trong chùa vẫn được duy trì, hàng năm thu hút được hàng nghìn sư sãi, con em đồng bào Khmer theo học; các lớp Tiểu học có số học viên lên đến hàng chục ngàn, các Lớp Sơ cấp Pali, Vini có đến hàng ngàn học viên, chưa kể các lớp bổ túc văn hoá, các chương trình ánh sáng hè… Nền giáo dục đầy hiệu năng này được thực hiện tại các trường và đặc biệt tại các chùa ở Sóc Trăng, Kiên Giang, Trà Vinh, An Giang, Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu…
3. Về hoạt động từ thiện xã hội:
Theo quan niệm của PGNT Khmer, sư sãi và bách tính có mối quan hệ khăng khít với nhau, nên hoạt động từ thiện của chùa là việc làm thường xuyên mang ý nghĩa cứu nhân độ thế. Chùa Khmer là nơi cưu mang trẻ nhỏ côi cút, hoặc con nhà nghèo được ăn và học chữ; Chùa còn là nơi giúp đỡ người già neo đơn. Gắn với cuộc sống của dân cư, nên các sư cũng đồng thời tham gia các hoạt động xã hội, cũng nhằm mục đích cứu nhân độ thế. Chính vì lẽ đó, hoạt động từ thiện xã hội luôn được PGNT Khmer coi là một trong những công tác trọng tâm, được chư Tăng, Phật tử tích cực hưởng ứng các phong trào giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh gặp khó khăn, xóa đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nhà tình thương, cứu trợ đồng bào bị lũ lụt, thiên tai… với số lượng, giá trị vật chất quyên góp, ủng hộ qua các năm ngày càng được cao hơn như Phật giáo Nam tông Khmer tỉnh Trà Vinh năm 2009 quyên góp và ủng hộ được hơn 1,6 tỷ đồng, 978 giạ gạo, 29.630 tập viết, 33.878 cây bút, còn năm 2010 quyên góp và ủng hộ được gần 2 tỷ đồng, 1012 giạ gạo, 327565 tập viết, 44.878 cây bút; Từ năm 2008 đến 2010, PGNT Khmer tỉnh Kiên Giang quyên góp và ủng hộ dược trên 4,5 tỷ đồng, PGNT Khmer tỉnh Vĩnh Long quyên góp và ủng hộ được 10 giếng nước ngầm, 60.570kg gạo, 30.800 tập viết, 5.600 gói mì, 2.700 bộ quần áo, 250 cái màn, thuốc chữa bệnh trị giá trên 10 triệu đồng…
- 4. Về công tác văn hóa, nghi lễ và các hoạt động khác
Việc thực hiện in ấn kinh sách để nhằm phục vụ hệ thống giáo dục Phật giáo của Giáo hội, đáp ứng yêu cầu đọc tụng, nghiên cứu, học tập của sư sãi và đồng bào Khmer luôn được PGNT Khmer quan tâm, đặc biệt là kinh sách bằng chữ Khmer. Dưới sự hỗ trợ của GHPGVN, các cấp chính quyền, từ năm 2004 đếm 2010 PGNT Khmer đã xuất bản được 52 đầu kinh sách, với hàng trăm nghìn quyển bằng chữ Khmer, chữ Pali và phát đến tận các chùa; hầu hết các tủ sách các chùa đã có Bộ Đại tạng Kinh bằng tiếng Khmer được thỉnh từ Campuchia về. Đây là một sự kiện đánh dấu một bước tiến mới của PGNT Khmer từ trước đến nay
Phương tiện hành trì đạo hạnh theo truyền thống hệ phái luôn luôn được đảm bảo tự do tín ngưỡng, những khoá an cư kiết hạ tại chỗ của sư sãi, ngày tết cổ truyền dân tộc như Chol Chnam Thmay, lễ Đôn ta hàng năm được tiến hành trọng thể khắp các chùa Khmer; các nghi lễ được tiến hành trang nghiêm, trọng thể, đồng thời cũng đảm bảo phù hợp theo thời điểm lao động, sinh hoạt cuộc sống và tiết kiệm được sự đóng góp tiền của công sức cho đồng bào Khmer. Đây cũng là thể hiện tính khoa học thời đại của PGNT Khmer khi ngôi nhà chung GHPGVN được thành lập.
Nét biệt truyền của hệ phái và văn hóa của đồng bào Khmer thể hiện qua ngôi chùa PGNT Khmer khi vừa là nơi để các sư tu hành, nhưng vẫn luôn là trung tâm văn hóa – xã hội, là cội nguồn, là nơi làm lễ của đồng bào với ông bà, cha mẹ, là môi trường đạo đức, nơi giáo dục đào tạo con em của đồng bào dân tộc Khmer…
Không những thế, hình ảnh, vai trò, uy tín của PGNT Khmer trong ngôi nhà chung GHPGVN cũng luôn được biết đến và nâng cao hơn khi các sự kiện lớn do GHPGVN tổ chức như Đại lễ Vesak Liên hợp quốc tổ chức ở Việt Nam năm 2008, Đại Lễ Kỷ niệm 700 Đức vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập diệt, Đại lễ Phật giáo chào mừng 1.000 năm Thăng Long Hà Nội, Đại lễ Tưởng niệm, Kỳ siêu anh hung Liệt sĩ ở nhiều tỉnh… đều có sự chung tay, góp sức của của sư sãi, Phật tử PGNT Khmer; được thể hiện qua sự hiện diện và tiếng nói của chư vị giáo phẩm đại diện hệ phái đã được khẳng định qua các hoạt động Phật sự, hội nghị, hội thảo, lễ lạc ở trong nước và ở nước ngoài như tham dự Đại hội Phật giáo vì hòa bình (ABCP) tại Mông Cổ; tham dự đối thoại về Hợp tác giữa các tôn giáo vì hòa bình và hòa hợp lần thứ IV tại Campuchian tháng 4/2008; tham dự hội thảo về “Giáo dục và đạo đức Phật giáo” do Ủy ban Hiệp hội các Trường Đại học Quốc tế tổ chức tại Thái Lan tháng 9/2008...; Hội thảo toàn quốc của các ban Hoằng Pháp, Nghi Lễ, Hướng dẫn Phật tử tổ chức năm 2009, 2010…
* Thay cho lời kết:
Bên cạnh những thành tựu đã đạt của PGNT Khmer như trình bày ở trên, do nhiều lý do khách quan và chủ quan trong sinh hoạt, hoạt động của PGNT Khmer vẫn còn một số hạn chế như vẫn chưa thống nhất được chương trình đào tạo Phật học, Pali, Vini sơ cấp, trung cấp cho người tu học; cơ sở dạy và học của các vị sư sãi còn gặp nhiều khó khăn, chưa đáp ứng được yêu cầu; một bộ phận sư sãi cần được tiếp tục đào tạo cả về trình độ thế học lẫn trình độ Phật học; việc quản lý sư sãi và các hoạt động Phật sự ở một số chùa chưa đi vào nề nếp… Nhưng điểm lại những thành tựu trên cho thấy Hệ phái PGNT Khmer ngày nay đã phát triển một cách đồng bộ, có chiều rộng lẫn chiều sâu, có bước chuyển biến mới trong lịch sử Phật giáo Nam tông Khmer; vai trò và uy tín của Hệ phái PGNT Khmer tại Việt Nam càng lúc càng thăng hoa, nổi bật hơn trong ngôi nhà chung GHPGVN. Đặc biệt đối với công tác đào tạo nguồn nhân lực kế thừa. Nhiều vị chức sắc thuộc hệ phái đã được Trung ương GHPGVN nhiều lần tuyên dương công đức vì đã có nhiều hoạt động tích cực trong Phật sự, được nhân dân tín nhiệm bầu vào các cơ quan quyền lực nhà nước, các đoàn thể ở các cấp, như Quốc hội, HĐND tỉnh, huyện, xã, Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp; nhiều vị đã được nhà nước tặng Huân chương, Huy chương, Bằng khen cao quý vì đã có thành tích xuất sắc trong phong trào xây dựng và bảo vệ tổ quốc, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo, ích nước - lợi đạo, gắn bó và đồng hành cùng dân tộc theo phương châm hoạt động “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”.
Những thành tựu hoạt động Phật sự của PGNT Khmer có được chính là nhờ vào trí tuệ tập thể, tập trung dân chủ, tiềm năng và cơ cấu tổ chức, nội dung hoạt động của PGNT Khmer trong suốt thời gian qua ngày càng được củng cố và phát triển đều khắp từ Trung ương đến địa phương, các Ban, ngành, Viện; là sự thống nhất đa dạng và đồng thuận của PGNT Khmer trong ngôi nhà chung GHPGVN. Hệ phái PGNT Khmer đã cùng các hệ phái Phật giáo trong ngôi nhà chung GHPGVN đã cùng nhau viết nên những trang sử vàng của Phật giáo Việt Nam trong thời hiện đại, tích cực xây dựng ngôi nhà chung GHPGVN ngày càng trang nghiêm, phát triển bền vững trên mọi phương diện trong lòng dân tộc./.
Tài liệu tham khảo:
- GHPGVN, Kỷ yếu Hôi nghị Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam, năm 1981
- Các Kỷ yếu Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc nhiệm kỳ II, III, IV, V, VI của GHPGVN.
- Tài liệu Hội nghị chuyên đề Phật giáo Nam tông Khmer lần thứ I (2004), lần 2 (2006), lần 3 (2008) và lần 4 (2010) của GHPGVN.
- Các Đề tài nghiên cứu về Phật giáo Nam tông Khmer của Ban Tôn giáo Chính phủ.
- Báo cáo Tổng kết công tác Phật sự từ 1981 đến 2010 của GHPGVN.
......
PHẬT GIÁO VIỆT NAM 30 NĂM NHÌN LẠI
Phật giáo Người Hoa
Phật giáo bắt nguồn từ Ấn Độ nhưng khi du nhập vào nước nào thì trở thành một đặc trưng văn hoá của nước đó. Cũng vậy, Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ rất sớm và chịu ảnh hưởng của hai nền văn hoá Ấn Độ và Trung Hoa nhưng khi vào Việt Nam - một dân tộc vốn hiếu hoà bao dung và đoàn kết nên người Việt đã đón nhận những giá trị hoà hợp đại chúng từ bi hỷ xả, vô ngã vị tha của Phật giáo một cách tự nhiên để tạo nên một con người Việt là đoàn kết và nhân ái.
Dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều thời kỳ lịch sử thăng trầm, nhưng dù giai đoạn lịch sử nào Phật giáo vẫn đồng hành cùng dân tộc, nước nhà cường thịnh thì Phật giáo mới phồn vinh. Năm 1975 sau khi nước nhà được giải phóng giang sơn quy về một mối thì việc thống nhất Phật giáo là nguyện vọng từ lâu của các Tăng Ni Phật tử. Chính vì thế sự thống nhất Phật giáo là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, một tinh thần Phật giáo – dân tộc đặt lợi ích dân tộc lên trên hết.
Trong công cuộc đổi mới không ngừng của nước nhà hướng tới dân giàu, nước mạnh, dân chủ và văn minh, Giáo hội Phật giáo Việt Nam 30 năm qua cũng không ngừng phát triển theo sự đi lên của đất nước.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam có bộ máy hành chánh các cấp gắn kết với các tự viện và nhịp nhàng từ trên xuống dưới đáp ứng mọi nguyện vọng của Tăng Ni Phật tử. Hoàn thiện các công tác tổ chức, các hoạt động chuyên nghành: Tăng sự, Giáo dục, Hoằng pháp, Nghi lễ, Văn hoá, Phật giáo quốc tế… đây là nét đặc trưng của Phật giáo Việt Nam mà Phật giáo các nước trong khu vực không có.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động với phương châm: “Đạo pháp – Dân tộc – CNXH” trong suốt 30 năm qua Chủ nghĩa Xã hội không những không hạn chế mà trái lại còn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Tăng Ni, Tín đồ Phật giáo thực hiện quyền tự do tín ngưỡng. Chính điều này tạo cơ hội cho Phật giáo giáo Việt Nam đóng góp cho sự nghiệp hiện đại hoá của đất nước.
Truyền thống nhập thế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong 30 năm qua nổi bậc nhất là các hoạt động từ thiện nhân đạo như: quyên góp giúp đỡ người bị thiên tai, bệnh tật; giúp gia đình nghèo vượt khó, bảo trợ cho sinh viên học sinh có hoàn cảnh khó khăn; xây dựng nhà tình nghĩa, thăm hỏi những gia đình thương binh liệt sĩ, người có công với Cách mạng; tặng nhà tình thương; mở lớp học tình thương; khám chữa bệnh miễn phí v.v… những hoạt động xã hội của Phật giáo Việt Nam với tấm lòng từ bi góp phần nâng cao đạo đức truyền thống và làm ổn định xã hội.
Thống nhất Phật giáo Việt Nam chẳng những mang yếu tố Tôn giáo mà còn mang yếu tố Dân tộc trong đó có Phật giáo Nam tông Khmer và Phật giáo Người Hoa, hoàn toàn phù hợp với chính sách Đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước.
Riêng Phật giáo Người Hoa tại Tp. Hồ Chí Minh tuy có sự khác biệt về ngôn ngữ, phong tục tập quán và phương pháp hành trì. Nhưng trong 30 năm qua đã được Giáo hội cho phép lập Ban Đại Diện Phật giáo Người Hoa nhằm tập hợp giới người Hoa cùng chung tay đóng góp để làm công tác Từ thiện Xã hội kết quả đã được Nhà nước và Giáo hội khen tặng những phần thưởng cao quý. Giáo hội cũng đã tạo điều kiện cho Tăng Ni Phật giáo người Hoa học ở các trường Phật học và giao lưu với các tổ chức Phật giáo Người Hoa ở các nước trên thế giới.
Trước sự phát triển của khoa học và công nghệ, hiện tượng toàn cầu hoá, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng thì vấn đề đạo đức xã hội, những giá trị truyền thống càng bị thách thức. Giáo hội cần có những nổ lực phát huy những điều kiện thuận lợi mà Nhà nước đã hỗ trợ:
- Mở trường mầm non tư thục;
- Sử dụng và đội ngũ Tăng Ni đã tốt nghiệp Tiến sĩ theo từng lãnh vực;
- Trợ cấp cho Tăng Ni tình nguyện hoạt động ở vùng sâu vùng xa;
- Có chế độ bảo hiểm cho Tăng Ni khi bệnh tật ốm đau;
- Định hướng cho Tăng Ni trẻ thực hiện theo phương châm: “Đạo pháp – Dân tộc – CNXH” khi tham gia các cấp hành chánh Giáo hội để duy trì tính nhất quán giữa Đạo pháp và Dân tộc cùng kiến tạo một xã hội thanh bình và thịnh vượng.
Nhân kỷ niệm 30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam là cơ duyên giúp chúng ta nhìn lại những gì đã đạt được cần phát huy và hoạch định cho tương lai làm thế nào để phát triển cho phù hợp với thời đại nhưng vẫn giữ được truyền thống phụng đạo yêu nước đã được hun đúc suốt chiều dài lịch sử Phật giáo Việt Nam mà các vị tiền bối đã dày công gây dựng.
NI GIỚI HỆ PHÁI KHẤT SĨ TRONG NGÔI NHÀ CHUNG
GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM - XƯA VÀ NAY
NT. Thích nữ Ngoạt Liên
Ủy viên Thường trực HĐTS GHPGVN
Thường trực Ni giới HPKS
- I. SƠ LƯỢC BƯỚC TRƯỞNG THÀNH CỦA NI GIỚI HỆ PHÁI KHẤT SĨ TỪ NGÀY THÀNH LẬP ĐẾN 1981:
Ni giới HPKS được hình thành từ khi Ni trưởng Huỳnh Liên và ba vị Trưởng lão Ni xin xuất gia tu học với Đức Tổ sư Minh Đăng Quang năm 1947 tại làng Phú Mỹ, Mỹ Tho (nay là Tỉnh Tiền Giang). Ni trưởng Huỳnh Liên với cương vị trưởng tử Ni được giao trách nhiệm tiếp chúng độ Ni, trực tiếp lãnh đạo hàng Ni giới Khất sĩ và việc tu học lúc bấy giờ đều do Đức Tổ sư giáo dưỡng.
Năm 1954, Đức Tổ sư Minh Đăng Quang thọ nạn và vắng bóng. Lúc bấy giờ Ni giới có tất cả 53 vị, Ni trưởng Huỳnh Liên kế tục sự nghiệp Tổ Thầy, trực tiếp lãnh đạo hàng Ni chúng Khất sĩ. Phương pháp tu lấy Giới – Định – Tuệ làm căn bản, hành tứ y pháp và trì bình khất thực hóa duyên.
Ngày 11/01/1958, Ni giới HPKS được chính thức có tư cách pháp lý, pháp nhân qua nghị định số 7-BNV-NA-P5, được cho phép thành lập Giáo Hội do Tham lý Nội – an Vũ Tiến Huân ký, với danh xưng Giáo Hội Khất Sĩ Ni Giới Việt Nam (thường gọi là Giáo Hội Liên Hoa Khất Sĩ), trụ sở đặt tại Tịnh xá Ngọc Phương, nay là Tổ đình Ngọc Phương, phường 1, quận Gò Vấp, Tp. Hồ Chí Minh.
Rồi những chuyến du hành mở đạo ra miền Trung của quí Ni trưởng năm 1958 và 1959, nhiều ngôi Tịnh xá được mở mang, tiếp độ chúng Ni tu học và giảng dạy Phật pháp cho đông đảo Phật tử tín đồ.
Căn cứ theo bài thơ “Ba Mươi Năm Diễn Tiến” của Cố Ni trưởng Huỳnh Liên[29] ghi lại thì Ni giới HPKS từ 1945- 1975 như sau:
“Mười năm đầu du phương lưu động,
Khắp đó đây mở rộng niềm tin.
Ngày ngày thuyết pháp giảng kinh,
Ngày ngày khất thực trì bình hóa duyên.
Đạo khổ hạnh người hiền mến cảm,
Nghĩa kệ kinh đơn giản rõ ràng,
Chùa chiền dựng lập Trung Nam,
Xuất gia cư sĩ hàng hàng qui y….”
Như vậy, NGHPKS trong 10 năm đầu chuyên tu giải thoát, khất thực trì bình du hóa, giảng kinh.
Mười năm kế (1955- 1965) vì chiến tranh leo thang, bên cạnh việc hoằng dương giáo pháp, Ni trưởng thiên về từ thiện xã hội nhiều hơn như: ủy lạo nạn nhân chiến cuộc, lửa cháy nước trôi, nuôi trẻ mồ côi, tặng quà bệnh viện, giúp kẻ tản cư…
“Mười năm kế thêm chi từ thiện,
Ủy lạo chung bệnh viện khám đường.
Nạn nhân chiến cuộc đau thương,
Hỏa tai, lụt lội, hồi hương, ra tù.
Trẻ mồ côi nhận thâu nuôi dưỡng,
Khai học đường mở hướng văn minh.
Cửa Từ rộng đức hiếu sinh,
Lợi người lợi vật nhiệt tình nhiệt tâm….”
Mười năm kế tiếp (1965- 1975): “Chiến tranh nữa mười năm khốc liệt…”, vào cuối năm 1963 trở đi, Phật giáo gặp pháp nạn, Ni trưởng tham gia bảo vệ Phật giáo, tiếp tục đấu tranh. Đến cuối năm 1969 các phong trào đấu tranh tạm lắng xuống vì chính quyền đàn áp thẳng tay, chỉ còn giới phụ nữ kiên cường đấu tranh đòi chồng đòi con, chống bắt lính, đòi thả tù học sinh, sinh viên… Lúc này Ni trưởng kết hợp với bà Luật sư Ngô Bá Thành và giới Phật tử cùng Giáo hội tranh đấu và thành lập phong trào Phụ nữ đòi quyền sống, phối hợp thành đoàn thể xúc tiến đấu tranh cho đất nước hòa bình.
Năm 1980, Ni trưởng Huỳnh Liên là một thành viên trong đoàn đại biểu vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam. Và kết quả thành tựu viên mãn là vào ngày 07/11/ 1981, chín hệ phái Phật giáo trong đó có Hệ phái Khất sĩ (gồm Giáo Hội Tăng Già Khất sĩ Việt Nam và Giáo hội Khất sĩ Ni giới Việt Nam) đã thống nhất trong ngôi nhà chung Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.
II. NI GIỚI HỆ PHÁI KHẤT SĨ từ 1981 - 2011:
Giai đoạn đầu sau giải phóng 1975, hòa chung sự khó khăn về kinh tế của cả nước, Cố Ni trưởng Huỳnh Liên chủ trương cho chư Ni lao động sản xuất, làm kinh tế tự túc nhà chùa, để bảo đảm đời sống Ni chúng hằng ngày, tạo điều kiện cho chư ni an tâm theo học các cấp lớp thế học và Phật học tại Thành phố. Chủ trương ấy đến nay vẫn còn duy trì.
Ni trưởng rước Thầy giáo dạy chư Ni kèm Văn, Toán, khuyến khích tất cả chư Ni dều nâng cao thế học, làm cơ sở để tiếp thu kiến thức Phật học với ước mong đào tạo Tăng tài, đóng góp vào sự vững chắc cho ngôi nhà Giáo hội, hộ trì Tam Bảo.
Năm 1987, Ni trưởng Huỳnh Liên viên tịch, để lại trên trăm ngôi Tịnh xá, Tịnh thất, Niệm Phật đường. Ni chúng xuất gia nhiều trăm vị, với hàng ngàn Phật tử tại gia qui hướng.
Kế tục sự nghiệp và con đường của Tổ sư, của Ni trưởng đã vạch ra để lại, Ni giới HPKS dưới sự lãnh đạo của chư vị Ni trưởng hàng Giáo phẩm Hệ phái, cũng như sự hỗ trợ tinh thần của chư tôn đức Tăng trong hệ phái, đã khuyến tấn chư Ni nghiêm trì giới luật, lấy Giới –Định –Tuệ của chư Phật làm đầu, mỗi ngày ôn tập và thực hiện lời di huấn của Cố Ni trưởng:
“Ngày đã cận cần tu gấp rút,
Giới giữ sao trong sạch như xưa.
Định, Huệ không thiếu không thừa,
Lợi ích dân chúng đúng vừa khả năng.”
Đến nay (2011), Ni giới Hệ phái Khất sĩ:
- Về mặt tổ chức[30]: Hiện có 203 ngôi Tự viện ( trong đó có 148 ngôi Tịnh xá, 33 Tịnh thất, 21 chùa, 01 NPĐ).
Ni chúng có 1073 vị gồm: 48 Ni trưởng, 134 Ni sư, 598 Sư cô, 123 Thức xoa, 170 Sa di Ni.
- Về mặt giáo dục: Hiện có 12 vị Tiến sĩ và 1 Thạc sĩ đã tốt nghiệp về nước phục vụ, trong đó 9 vị đã tham gia giảng dạy tại Học viện TPHCM hoặc các Trường Cao Trung Phật học ở Tỉnh, 20 vị đang du học ở các nước Ấn độ, Trung quốc, Miến điện, Đài Loan.
Đang học lớp Phật Pháp nâng cao sau Đại học tại TPHCM: 04 vị.
Chư Ni tốt nghiệp Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh qua các khóa (từ khóa 1- khóa 8): 146 vị.[31] Hiện đang học khóa 9 tại Học viện là: 24 vị.
Chư Ni Cao Đẳng Phật học đã tốt nghiệp: 65 vị.[32]
Chư Ni học Y khoa (Đông y và Tây y): 12 vị.
Đặc biệt trước năm 1975, Tịnh xá Ngọc Phương là nơi thể hiện ý chí bất khuất của Ni giới Khất sĩ đã đứng lên đòi hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước. Ngày nay trong thời đại hòa bình, Tổ đình Ngọc Phương là nơi chăm lo đời sống tu học cho Ni chúng. Nhất là hằng năm đều có tổ chức khóa An Cư Kiết Hạ để chư Ni các miền Tịnh xá tập trung về thọ học Kinh, Luật và Luận, thúc liễm thân tâm trau giồi giới đức. Ngoài ra, quí Ni trưởng, Ni sư trong Hệ phái đang cố gắng luân phiên tổ chức các khóa thiền tập ngắn hạn, mỗi năm sẽ cố gắng tổ chức 4 khóa, mỗi khóa một tuần lễ. Từ sau Hạ đến nay, Ni trưởng Chiêu Liên đã liên tục tổ chức các khóa tu thiền hằng tháng, mỗi khóa một tuần tại Tịnh xá Ngọc Khánh, thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Thiền sinh tham dự gồm chư Ni tại một vài trú xứ lân cận tập trung về Tịnh xá tu tập.
Hiện nay, Ni giới Khất sĩ được sự cho phép của Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, Quận hội Phật giáo Gò Vấp đã thành lập được một phân hiệu Sơ cấp Phật học trực thuộc lớp Sơ cấp Phật học quận Gò Vấp, từ năm 2004 đến nay (2011) là 4 khóa. Từ khóa 1 đến khóa 3 có 74 Ni sinh đã hoàn tất chương trình Sơ cấp Phật học theo học các lớp trên, hiện có 25 Ni sinh đang học khóa 4 Sơ cấp Phật học tại Tịnh xá Ngọc Phương.
- Về Hoằng Pháp: Ni giới Khất sĩ có 34 Hoằng pháp viên có thể giảng trong các đạo tràng và lớp giáo lý. Bên cạnh có một số Ni trẻ cũng có khả năng thuyết giảng, và các vị hiện đang trụ trì bận Phật sự ở trú xứ, chỉ có thể giảng tại trú xứ của mình, tất cả khoảng 30 vị. Chư Ni đã học lớp Cao Cấp Giảng sư: 12; Chư Ni lớp Trung cấp Giảng sư: 6; Chư ni học lớp Bồi dưỡng Giảng sư: 19 vị.
- Về Hướng dẫn nam nữ Phật tử:
- Chỉ tổ chức cúng Hội: 2 đơn vị, tổ chức 1tháng 2 lần.
- Tổ chức khóa tu niệm Phật: 4 đơn vị ( một tháng 1 ngày hoặc 3 ngày; hoặc hai tháng 7 ngày).
- Cúng Hội kết hợp với tu Bát Quan Trai: 2 đơn vị, tổ chức 1tháng 1 lần.
- Tổ chức cúng Hội và khóa Niệm Phật : 3 đơn vị (tổ chức 1tháng từ 3- 6 lần).
- Tổ chức cúng Hội và BQT : 1 đơn vị, tổ chức 1tháng 6 lần.
- Tổ chức BQT+ Niệm Phật: 2 đơn vị, 1tháng 4 lần.
- Tổ chức BQT+ Niệm Phật+ Lớp Giáo lý: 1 đơn vị,
- Hiện đang có 14 Tịnh xá có tổ chức Bát quan trai mỗi tháng một lần;
- Sáu đơn vị tổ chức Bát quan trai cho Phật tử tu tập mỗi tháng hai lần.
Như vậy tổng số có 35 / 203 đơn vị tự viện có tổ chức đạo tràng cho Phật tử tu tập.[33]
Một số Tịnh xá, sau thời sám hối hằng nửa tháng có thuyết giảng giáo lý cho Phật tử nghe để phát triển văn tuệ.
Về Từ thiện xã hội: Noi theo gương của cố Ni trưởng Huỳnh Liên, luôn gắn liền Đạo pháp và Dân tộc như lời di huấn của Ngài: song song với việc tu Giới –Định- Tuệ còn phải làm “ lợi ích dân chúng đúng vừa khả năng”, Ni giới Khất sĩ tham gia các mặt công tác từ thiện xã hội, tương thân tương trợ, giúp người nghèo khó, thiên tai, lũ lụt, bệnh nhân nghèo, trẻ mồ côi, xây nhà tình nghĩa, tình thương… Qua các mặt phong trào sơ kết 12 năm gần đây (từ năm 2000 – 2011) Tịnh xá Ngọc Phương ủy lạo với số tiền 6.893.659.500 đồng.
Các nơi Tịnh xá đóng góp cho Ngọc Phương còn đóng góp cho địa phương nơi trú xứ của mình. Thống kê số liệu 58/203 ngôi Tịnh xá, Tịnh Thất của Ni giới HPKS làm từ thiện chỉ riêng năm 2010 là 19.712.000.000 đ (mười chín tỷ bảy trăm mười hai triệu Việt Nam đồng). Thống kê số liệu 43/203 ngôi năm 2011 là 6.4 37.746.000 đồng.
Tóm lại, Ni giới HPKS trong sự nghiệp xây dựng Đạo pháp và Dân tộc:
-Về Đạo pháp, Ni giới HPKS nói riêng hay Hệ phái Khất sĩ nói chung đã có những đóng góp trong sự nghiệp xây dựng Đạo pháp như sau:
+ Đào tạo nhiều Tăng Ni, Tăng tài làm Tăng bảo thêm vững mạnh.
+ Xây dựng thêm nhiều Tịnh xá, tự viện làm nơi tu dưỡng đạo đức con người.
+ Hoằng truyền Phật pháp rộng sâu qua thuyết giảng giáo lý, hướng dẫn Phật tử tu học, làm chánh pháp cữu trụ thế gian.
+ Tham gia trong Ban Vận động để thống nhất PGVN.
+ Tham gia vào các Ban nghành của Giáo hội từ Trung ương đến địa phương. Nhiệt tình ủng hộ và chấp hành chủ trương đường lối của GHPGVN.
- Về Dân tộc:
+ Ni giới HPKS tham gia giảng dạy giáo lý của Phật góp phần hoàn thiện con người về đạo đức, giúp an bình xã hội, cá nhân và gia đình hạnh phúc.
+ Trong thời chiến có Ni trưởng TN Huỳnh Liên cùng chư Ni Khất sĩ tham gia đấu tranh cho Hòa bình - Độc lập dân tộc qua các mặt phong trào.
+ Tham gia vào các Đoàn thể, Mặt trận của nhà nước. Luôn chấp hành tốt mọi chủ trương chánh sách của Đảng và Nhà nước.
+ Tham gia vận động đóng góp các mặt từ thiện xã hội từ trước đến nay.
Năm 1994, Tịnh xá Ngọc Phương được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là “Di tích Lịch Sử Cấp Quốc Gia”.
Kính Đề Nghị:
Để tạo điều kiện cho chư Ni trẻ được thuận tiện hơn trong việc học tập giáo lý, đồng thời cũng tạo môi trường cho chư Ni Khất sĩ sau khi học xong trong nước cũng như ở hải ngoại về có điều kiện phát huy sở học, nghiên cứu và kỷ năng giảng dạy; có môi trường giảng dạy quyển Chơn lý và Luật Nghi Khất sĩ của Đức Tổ sư khai sáng Hệ phái;
Trình độ chư Ni trẻ hiện nay đa số lớp 12/12, thích học Trung cấp hơn là phải mất hai năm cho Sơ cấp. Do đó sĩ số Ni sinh lớp Sơ cấp Phật học của Ngọc Phương hiện tại rất giao động, thường có nguy cơ tan rã khi trường Trung cấp các nơi chiêu sinh, hoặc Học viện chiêu sinh.
Vì tất cả lý do trên, chúng con - Ni giới HPKS xin được mở một Phân hiệu Trung Cấp Phật học của Ni giới Hệ phái Khất sĩ tại Tổ đình Ngọc Phương, trực thuộc trường Trung Cấp Phật học Tp. Hồ Chí Minh.
Kính mong được sự quan tâm cứu xét và giúp đỡ của chư tôn đức lãnh đạo Giáo hội và Nhà nước. Chúng con đồng thành kính tri ân.
ĐẶC TRƯNG PHẬT GIÁO THỦ ĐÔ
Thượng Tọa Thích Thanh Nhã
Phó trưởng Ban Trị sự THPG Hà Nội
NAM MÔ BẢN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Kính bạch Chư tôn đức Giáo phẩm HĐCM, HĐTS TW GHPGVN
Kính bạch Chư tôn đức Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, Đại đức Tăng Ni.
Kính thưa Quý vị khách quý, Quý vị đại biểu.
Thưa toàn thể hội nghị!
Thăng Long - Hà Nội Thủ đô của chúng ta bước qua tuổi thứ 1001 với những dấu ấn đầy tự hào. Hôm nay, mỗi người chúng ta càng thêm phấn khởi, tin tưởng về sự nghiệp xây dựng, phát triển Thủ đô. Tự hào về thời điểm lịch sử Hà Nội đã cùng với cả nước tổ chức thành công Đại lễ kỷ niêm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, để lại những tình cảm tốt đẹp, góp phần nâng cao vị thế, uy tín Thủ đô trong nhân dân, bạn bè Quốc tế. Trải qua biết bao thử thách, thăng trầm của lịch sử, Hà Nội ngày nay vẫn gắn liền với lịch sử oai hùng của dân tộc, tiếp tục xây dựng bồi đắp truyền thống văn hiến và anh hùng của dân tộc Việt Nam, kết hợp với tiếp thu có chọn lọc các giá trị văn hóa, văn minh nhân loại.
Nhân dịp Hội thảo kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam (07/11/1981 - 07/11/2011). Những người conPhật của Thủ Đô tự hào về những gì Phật giáo gắn liền với Thủ đô của đất nước anh hùng. Trong khuôn khổ giới hạn của buổi Tọa đàm, xin nêu về một số đặc trưng tiêu biểu của Phật giáo Thủ đô Hà Nội.
Trí tuệ và tầm nhìn của Phật giáo đã tìm ra vùng đất đặt Thủ đô Đại Việt Thăng Long - Hà Nội. Vị vua anh minh Lý Công Uẩn được các bậc Đại sư như Lý Vạn Hạnh, Lý Khánh Vân phò tá nên đã quyết định chuyển kinh đô từ Hoa Lư về Thăng Long. Ngàn năm sau, nơi đây trở thành Thủ đô của nước Việt Nam. Có quyết định đúng đắn ấy là xuất phát từ tầm nhìn và trí tuệ của Phật giáo.
Phật giáo đã trở thành Quốc đạo trong hai triều đại đầu tiên khi chuyển kinh đô về thành Thăng Long (triều Lý - Trần) để từ đó tư tưởng, giáo lý, hành động của Phật giáo thấm sâu vào đời sống của đông đảo nhân dân. Phật giáo đã để lại nhiều giá trị đạo đức, văn hóa, nghệ thuật. Góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa của dân tộc.
Phật giáo Thủ đô gắn liền với công cuộc dựng nước và giữ nước oai hùng của nhân dân ta. Lịch sử dân tộc và lịch sử Phật giáo đã khẳng định trong suốt các triều đại phong kiến bắt đầu từ thời Đinh, thời nào cũng có các bậc Quốc Sư, Cao Tăng trong vai trò cố vấn chính trị, đạo đức, quân sự để giúp các vị Vua trong đoàn kết nhân dân, trau dồi tri thức, hiến kế để chống giặc ngoại xâm, yên dân để phát triển đất nước. Khi kinh đô chuyển về Thăng Long Phật giáo ngày càng phát triển và thể hiện rõ nét điều đó dưới 2 triều đại Lý - Trần. Triều đình cùng nhân dân ta đã đánh tan các đội quân xâm lược mạnh nhất từ phương Bắc. Cũng trong giai đoạn này tư tưởng tự lực, tự cường, nền đạo đức, văn hóa, kinh tế của nước ta thể hiện rực rỡ.
Phật giáo Thủ đô gắn liền với tri thức, văn hóa tiên tiến và các điều kiện vật chất thuận lợi cho cuộc sống. Thủ đô nước ta không chỉ là trung tâm chính trị, hành chính mà còn là trung tâm văn hóa, kinh tế, ngoại giao… Bởi vậy Phật giáo cũng thường mở trường dạy học ở đây. Hiện nay tại Thủ đô có Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội, Lớp cao đẳng Phật học, Trường trung cấp Phật học Hà Nội…
Phật giáo Thủ đô đại diện cho Phật giáo cả nước. Từ xa xưa, Phật giáo đã lấy Phật giáo Thủ đô làm đại diện cho Phật giáo cả nước. Ngôi chùa Quán Sứ ở Thủ đô đã nói về điều đó. Chùa Quán Sứ được xây dựng vào thế kỷ 15 vào thời vua Lê Thánh Tông. Năm 1934 Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập đã lấy chùa Quán Sứ làm trụ sở. Ngày nay, chùa Quán Sứ là văn phòng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nơi chỉ đạo hoạt động của Giáo hội và cũng là nơi đón tiếp khách trong và ngoài nước thăm Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Phật giáo Thủ đô gắn liền với các hoạt động Phật giáo lớn của cả nước. Từ xa xưa đến nay những hoạt động lớn như Lễ hội, Lễ cầu cho Quốc thái dân an, các hoạt động triều cống mang nghi thức Phật giáo thường diễn ra ở Thủ đô. Từ khi thành lập GHPGVN đến nay, Thủ đô Hà Nội cũng được chọn là nơi diễn ra các hoạt động lớn của Phật giáo trong cả nước như: Đại hội thành lập GHPGVN diễn ra tại Hà Nội từ ngày 04-07/11/1981, Đại hội Phật giáo các nhiệm kỳ, Hội nghị Quốc tế về Phật giáo như Đại Lễ VESKA 2008… đều được diễn ra ở Hà Nội.
Thủ đô là nơi nhập thế của nhiều bậc cao Tăng trong Phật giáo Việt Nam. Phật giáo Thủ đô cũng có nhiều ngôi chùa gắn với sự nghiệp của các Triều đại, do đặc điểm của đời sống xã hội, kinh tế nước ta thời kỳ đó, các vị Vua quan thường đến các ngôi chùa gần kinh thành để lễ Phật, cầu Đạo. Bởi thế nhiều ngôi chùa thuộc kinh thành gắn liền với các bậc Vua quan.
Trải qua ngàn năm lịch sử, Phật giáo Thủ đô thời nào cũng luôn có những đóng góp xứng đáng cho công cuộc dựng nước và giữ nước. Trong thời gian 30 năm của GHPGVN tuy không dài so với hàng ngàn năm lịch sử Phật giáo Thăng Long - Hà Nội nhưng cũng đã thể hiện rõ vai trò của Phật giáo Thủ đô. Để tưởng nhớ đến công đức của các Bậc tiền nhân, Tổ sư... Phật giáo Thủ đô hôm nay cần phải có nhiều hoạt động thiết thực hơn nữa để khẳng định vị thế là Phật giáo Thủ đô ngàn năm văn hiến.
Trước khi dừng lời kính chúc chư Tôn giáo phẩm pháp thể khinh an, chúng sinh dị độ, Phật sự viên thành. Kính chúc quý vị khách quý, quý vị đại biểu dồi dào sức khoẻ, gia đình hạnh phúc, thành tựu mọi sự nghiệp. Chúc buổi tọa đàm thành công tốt đẹp./.
Xin trân trọng cảm ơn!
CHÀO MỪNG ĐẠI LỄ KỶ NIỆM
30 NĂM THÀNH LẬP GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
(THAM LUẬN CỦA BAN TRỊ SỰ THÀNH HỘI PHẬT GIÁO TP.HỒ CHÍ MINH)
-----------------------------------
Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển khoảng 2000 năm trên mảnh đất Việt Nam anh hùng tôn trọng đạo nghĩa, Phật giáo luôn hài hòa và đồng hành cùng dân tộc. Với những giá trị văn hóa truyền thống, phụng đạo yêu nước, giáo lý Phật đà không chỉ dừng lại với ý niệm từ bi hỷ xả, tự lợi, lợi tha trong lòng mọi người, mà nó còn đi vào thực tiễn trong cuộc sống, hòa nhập với những phong tục tập quán tại địa phương…, từ đó đạo Phật đã trở thành một tôn giáo thân thiện của dân tộc Việt Nam.
Phật giáo được du nhập vào đất nước Việt Nam từ rất sớm, ngay từ đầu công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử học đạo của một nhà sư Ấn Độ. Địa phận Luy Lâu (thuộc tỉnh Bắc Ninh) là trụ sở của quận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng. Đến đời nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh và được coi là quốc giáo, có sức ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống. Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo và Phật giáo đã đi vào giai đoạn suy thoái. Đến đầu thế kỷ 18, vua Quang Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên việc này không có nhiều kết quả. Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của quá trình Âu hóa, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ, khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu.
Cho đến thời điểm thống nhất Việt Nam năm 1975, tại miền Bắc và miền Nam có nhiều tổ chức Phật giáo hoạt động. Với mục đích thống nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo tại Việt Nam thành một tổ chức duy nhất, cuộc vận động thống nhất Phật giáo đã được tiến hành. Năm 1980, Ban vận động Thống nhất Phật giáo ra đời do Hòa thượng Thích Trí Thủ làm trưởng ban.
Năm 1981, Đại hội các tổ chức Phật giáo được tổ chức tại chùa Quán Sứ - Hà Nội. Một tổ chức mới ra đời, lấy tên là Giáo hội Phật giáo Việt Nam, là hợp nhất của 9 tổ chức: Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất, Giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam, Giáo hội Tăng già Nguyên thủy Việt Nam, Ban liên lạc Phật giáo yêu nước, Giáo hội Thiên Thai Giáo Quán Tông, Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam, Hội đoàn kết Sư sãi yêu nước Tây Nam Bộ, Hội Phật học Nam Việt. Đại hội đã thông qua Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đồng thời suy tôn suy cử giáo phẩm lãnh đạo Giáo hội, bao gồm Hội đồng Chứng Minh và Hội đồng Trị sự.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam là Giáo hội Phật giáo duy nhất được Chính phủ Việt Nam công nhận, được thành lập tại Đại hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại chùa Quán Sứ, Hà Nội vào ngày 7 tháng 11 năm 1981 nhằm thống nhất tất cả sinh hoạt Phật giáo của Tăng Ni, Phật tử Việt Nam. Phương châm của Giáo hội là: "Đạo pháp, Dân tộc, Chủ nghĩa xã hội".
Hòa trong nhịp đập phát triển 30 năm Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh đã không ngừng nỗ lực vươn lên, từng bước củng cố và lớn mạnh về mọi mặt. Tiêu chí hoạt động của Ban Trị sự Thành hội là “Đoàn kết hòa hợp, trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm Giáo hội”, góp phần xây dựng xã hội công bằng dân chủ và văn minh, luôn đi đầu trong các phong trào thi đua yêu nước, nêu cao gương hạnh đạo đức và thuần phong mỹ tục, sống tốt đời đẹp đạo.
Trải qua gần 6 nhiệm kỳ, dưới sự chỉ đạo của Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Tp.HCM đã gặt hái nhiều thành quả tốt đẹp: Nếp sống Tăng đoàn ngày càng ổn định và phát triển, các cơ sở thờ tự trực thuộc Giáo hội ngày một trang nghiêm, số lượng tín đồ Phật tử ngày càng tăng trưởng; Công tác tổ chức, Thành hội Phật giáo luôn kiện toàn thành phần nhân sự lãnh đạo Ban Trị sự - đều là các bậc tu hành phẩm hạnh, có đầy đủ nhiệt tâm và trách nhiệm, hoàn thành tốt các nghị quyết của Trung ương Giáo hội đề ra và tham gia tích cực các hoạt động xã hội tại địa phương. Về mặt hoạt động của 9 ban ngành trực thuộc Thành hội Phật giáo đã có nhiều thành quả đáng kể, cụ thể là trong các lĩnh vực:
1./ Thiết lập một hệ thống giáo dục cho Tăng Ni và lối sống đúng đắn cho các Phật tử:
Số lượng Tăng Ni: Có 6.845 Tăng Ni (trong đó 6.205 Tăng Ni Bắc tông, 395 Tăng Ni Hệ phái Khất sĩ, 31 chư Tăng Nam tông Kinh, 19 chư Tăng Nam tông Khmer, 195 Tăng Ni Phật giáo người Hoa). Chư Tăng Phật giáo Bắc Tông, hệ phái Khất sĩ, Phật giáo người Hoa và hệ phái Nam tông đã có nhiều dịp trao đổi, học hỏi kinh nghiệm tu tập và công tác Giáo hội.
Số lượng tự viện: Có 1.121 cơ sở Tự viện (1.008 Tự viện Bắc tông, 41 Tịnh xá, 17 chùa Nam tông Kinh, 02 chùa Nam tông Khmer, 53 chùa Phật giáo người Hoa).
Về lĩnh vực Giáo dục Phật giáo, rèn luyện phẩm hạnh, giảng dạy cho Tăng Ni về Phật học cũng như thế học, nghiêm trì giới luật, giữ gìn sự thanh tịnh và hòa hợp, tạo được niềm tin cho tín đồ Phật tử. Mỗi năm, Ban Tăng sự Thành hội đều lập kế hoạch tổ chức khoảng 40 trường Hạ an cư tập trung cho các hành giả an cư và 50 Hạ trường an cư kiết hạ tại chỗ tại 24 Ban đại diện Phật giáo Quận Huyện cho hàng ngàn Tăng Ni thúc liễm thân tâm, tấn tu tam vô lậu học. Mỗi nhiệm kỳ kiến lập 2 đại Giới đàn, và trong 30 năm Thành hội Phật giáo đã tổ chức trên 9 đại giới đàn, hơn 1 vạn giới tử cầu thọ giới pháp để tu học.
Bằng những nỗ lực không mệt mỏi của chư tôn đức Giáo thọ sư, trải qua 3 thập niên đã giảng dạy cho khoảng 10.000 Tăng Ni sinh đã tốt nghiệp và đang theo học tại các trường Cao - Trung Phật học, lớp Sơ cấp Phật học và Học viện Phật giáo. Cho đến nay, Ban giáo dục Tăng Ni đã và đang đào tạo được 8 khóa Trung cấp Phật học, 5 khóa Cao đẳng Phật học và 9 khóa Cử nhân Phật học, hàng trăm Tăng Ni du học sinh theo học các chương trình Cao học thạc sĩ, tiến sĩ tại các nước Ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Myanmar, Srilanka… Giới thiệu Tăng Ni sinh theo học khóa Thiện Hoa, Trí Thủ, lớp Cao - Trung cấp giảng sư do Ban Hoằng pháp Trung ương tổ chức.
Giúp đỡ và khuyến khích giới Tăng Ni trẻ luôn tấn đạo nghiêm thân, xứng đáng là trưởng tử của Như Lai, duy trì mạng mạch giáo pháp của Đức Thế Tôn, kế thừa sự nghiệp hoằng hóa của Tổ Thầy.
Nhận thức được trách nhiệm thiêng liêng cao quý là “Hoằng pháp lợi sanh”, Ban Hoằng pháp Thành hội rất quan tâm và nỗ lực đem đạo vào đời, ngõ hầu tuyên dương chánh pháp, lời Phật dạy được phổ biến muôn nơi. Chư tôn đức thành viên giảng sư đoàn đã thuyết giảng trên 100 giảng đường Phật học, và khoảng 150 các đạo tràng tu tập bát quan trai giới, đạo tràng niệm Phật, lớp Phật học hàm thụ có khoảng 5.000 lượt Phật tử tham dự khóa học. Các buổi giảng đều truyền tải thông điệp từ bi trí tuệ của đức Phật, được các vị Pháp sư, giảng sư khai thác và giảng dạy dưới góc nhìn tâm lý đạo đức Phật giáo khiến thính giả dễ tiếp thu và ứng dụng lời Phật dạy “Sống đạo trong đời”.
Hoằng dương Phật pháp cũng như hướng dẫn Phật tử tu hành đúng chánh pháp là trách nhiệm của chư Tăng Ni. Thành hội Phật giáo luôn quan tâm đến lĩnh vực này vì Phật tử luôn là nhân tố tích cực trong nhiều công tác Giáo hội. Thường trực Ban Trị sự đã chỉ đạo Ban hướng dẫn Phật tử Thành phố tạo nhiều mô hình sinh hoạt tu học, đề cao nếp sống hiền thiện và đạo đức. Từ đó, có nhiều tín đồ Phật tử đến chùa để lễ Phật, hành thiền hay tham dự các khóa học giáo lý, khóa tu một ngày an lạc, khóa tu mùa hè dành cho giới trẻ, các đơn vị sinh hoạt Gia đình Phật tử, các Câu lạc bộ thanh thiếu nhi Phật tử tu học. Điều này đã tạo sự tĩnh lặng, sáng suốt và làm phong phú thêm đời sống tâm linh của mọi người. Hướng dẫn Phật tử làm lành lánh dữ, hành thiện tránh ác, góp phần vào việc ổn định cho xã hội, tạo môi trường sống lành mạnh trong cuộc sống, từng bước khắc phục và đẩy lùi các tệ nạn xã hội.
2./ Truyền bá chánh pháp và thể hiện rõ tính tích cực của Phật giáo
Những ấn phẩm Phật giáo như Báo Giác Ngộ, Tạp chí Văn hóa, Đạo Phật Ngày Nay được phát hành rộng rãi khắp các tỉnh thành trong cả nước là những tài liệu quý cho độc giả tìm hiểu về giáo lý đạo Phật. Đặc biệt, báo Giác Ngộ là cơ quan ngôn luận của Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh, trung bình mỗi kỳ phát hành 12.000 số, mỗi năm phát hành 576.000 số. Bên cạnh đó, tòa soạn báo đã phối hợp với Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam tổ chức trao các kỷ lục về các công trình văn hóa, mỹ thuật và nghiên cứu các thể tài Phật giáo.
Bên cạnh đó, Ban văn hóa Thành hội Phật giáo phối hợp với Sở Văn hóa - Thông tin thành phố tiến hành khởi công xây dựng và hoàn tất tượng đài Bồ tát Quảng Đức tại ngã tư Cách mạng tháng 8 - Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3 để tưởng nhớ công đức vị pháp thiêu thân để bảo vệ Đạo pháp, giành độc lập cho Tổ quốc của Hòa thượng Thích Quảng Đức – Thánh tử đạo trong mùa pháp nạn 1963. Nhà truyền thống văn hóa Phật giáo thành phố được đặt tại Chùa Phổ Quang để phục vụ cho các lễ hội, tập trung hàng ngàn Tăng Ni và Phật tử về tham dự.
Tổ chức trang nghiêm và trọng thể đại lễ Kính mừng Phật Đản và đại lễ Vu Lan báo hiếu gắn với các hoạt động: Diễu hành xe hoa, thuyết giảng Phật pháp cho đồng bào Phật tử tại lễ đài, triễn lãm thư pháp, trình diễn văn nghệ, từ thiện xã hội, ủy lạo đến đồng bào nghèo có hoàn cảnh khó khăn.
3./ Nhằm tăng cường truyền thống yêu nước của Phật giáo Việt Nam, mối liên hệ, gắn bó của Phật giáo với nhân dân Việt Nam và sự đóng góp tích cực của Phật giáo vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Là một thành viên tích cực trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Thành hội Phật giáo luôn phối hợp với Ủy ban Nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thành phố trong mọi hoạt động xã hội. Động viên giới Tăng Ni và Phật tử hoàn thành tốt các phong trào ích nước lợi dân, bảo vệ môi trường, xây dựng nếp sống văn hóa trên địa bàn dân cư. Nhiều tấm gương điển hình người tốt việc tốt của chư tôn đức Tăng Ni được Nhà nước tặng thưởng Huân chương cao quý, các cấp chính quyền và ban ngành đoàn thể biểu dương khen tặng.
Về lĩnh vực từ thiện xã hội, với tinh thần “Phục vụ chúng sanh là thiết thực cúng dường chư Phật”, lấy từ bi cứu khổ làm phương châm hoạt động tự độ, độ tha, tinh thần tương thân tương ái. Trong những năm vừa qua, Thành hội Phật giáo đã hưởng ứng các phong trào xây dựng hàng ngàn ngôi nhà tình thương, những hoạt động ủng hộ quỹ vì người nghèo, quỹ đền ơn đáp nghĩa với số tiền lên đến hàng trăm tỷ đồng. Các chương trình mổ mắt từ thiện, tặng xe lăn xe lắc, xây dựng cầu bê tông nông thôn, ủng hộ kinh phí đào giếng… cũng được triển khai thực hiện thường xuyên. Các Tuệ Tĩnh đường, phòng thuốc y học dân tộc miễn phí, các lớp học tình thương, cơ sở nuôi dạy trẻ mẫu giáo, nhà nuôi trẻ mồ côi, khuyết tật, cứu trợ đồng bào thiên tai lũ lụt, góp phần làm vơi đi những khó khăn về mặt vật chất cũng như tinh thần của người dân.
Trải nghiệm 30 năm, thuật ngữ “Kinh tế học Phật giáo” được bàn luận, nghiên cứu khá nhiều trên các diễn đàn hội thảo. Với mục đích tạo sự ấn định bền vững cho kinh tế nhà chùa nhằm cải thiện điều kiện sinh hoạt của Tăng Ni và đóng góp tạo phồn vinh cho đất nước… Ban Kinh tế Tài chánh Thành hội Phật giáo đã phối hợp tổ chức hệ thống nhà hàng Việt Chay, các phòng phát hành kinh sách Phật giáo phục vụ cho Tăng Ni, Phật tử và các sản phẩm du lịch hành hương tâm linh chiêm bái các thắng tích Phật giáo trong nước cũng như quốc tế.
Đứng trước bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa giao lưu mọi mặt trong đời sống, Phật giáo cũng có những bước chuyển mình đầy tích cực và ngoạn mục theo xu hướng phát triển của thời đại. Với mục đích tăng cường mối liên hệ hữu nghị với Phật tử và các tổ chức Phật giáo trên thế giới, tham gia xây dựng hòa bình và hạnh phúc cho nhân loại, Ban Phật giáo Quốc tế đã thực hiện chương trình đối ngoại và thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị, trong thời gian qua Thành hội Phật giáo phối hợp với Văn phòng 2 TWGH tiếp các phái đoàn Phật giáo các nước: Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản Thái Lan, Lào, SriLanka; thăm hữu nghị và chiêm bái thánh tích tại Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan; tham dự Hội nghị Phật giáo thế giới tại Trung Quốc, Ấn Độ và tham dự Hội nghị hợp tác hữu nghị 2 nước Việt Nam - Campuchia tại Tp. Hồ Chí Minh… Các công tác quốc tế Phật giáo đã từng bước kiện toàn khả năng hoạt động và giới thiệu hình ảnh Phật giáo Việt Nam ra ngoài thế giới, thắt chặt tinh thần đoàn kết ngoại giao, hợp tác hữu nghị.
Các bậc Cổ đức có dạy “Ôn cố tri tân”, nghĩa là ôn lại việc đã qua để rút kinh nghiệm cho những việc của ngày hôm nay. Cũng vậy, trong đại lễ kỷ niệm này, chúng ta ngồi lại với nhau để thảo luận và tán dương những thành quả mà 30 năm qua Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã từng bước chuyển mình phát triển theo chiều hướng tích cực, phụng đạo yêu nước, đồng hành cùng dân tộc.
Bằng những hoạt động và thành quả đạt được, Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Tp.HCM đã khẳng định tính mẫu mực trong hoạt động theo định hướng và phương châm của Hiến chương Giáo hội, phù hợp với Hiến pháp Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam… đã thể hiện tính năng động và hội nhập cùng với tầm nhìn lớn lao trong định hướng hoạt động, phát triển trong xu thế làm mới không ngừng của quốc gia và Giáo hội. Và để có những thành quả lớn lao này, trong đó có một phần nhỏ sự đóng góp của Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh với việc hoằng pháp độ sinh, trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm Giáo hội, giúp cho Phật giáo Việt Nam ngày một kiện toàn, ngõ hầu xây dựng đất nước Việt Nam ngày một giàu đẹp, văn minh và phồn thịnh.
Trước khi dứt lời, thay mặt Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Tp.HCM, chúng tôi xin gửi lời chúc đến chư tôn đức Giáo phẩm, quý vị đại biểu khách quý được dồi dào sức khỏe, thân tâm an lạc.
Kính chúc buổi Hội thảo chào mừng sự kiện “30 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam” được thành công tốt đẹp ./.
Tham Luận
Của Ban Trị Sự Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Bình Định
Kính bạch : - Chư Tôn Giáo phẩm HĐCM, HĐTS GHPGVN
- Chư Tôn đức BTS các Tỉnh, Thành,
Chư tôn thiền đức Tăng Ni.
Kính thưa: Quý vị lãnh đạo đại diện cho Đảng và Nhà nước.
Kính thưa Quý vị!
Thay mặt Ban Trị sự Tỉnh GHPG Bình Định, tôi xin gởi đến Chư Tôn Đức và quý vị đại biểu tham dự Hội thảo kỷ niệm 30 năm thành lập GHPGVN lời chào trân trọng. Kính chúc Quý vị vô lượng an lạc. Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp.
Kính thưa Quý vị!
Sự kiện GHPGVN được thành lập vào tháng 11-1981 là một bước ngoặt lớn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Sự thống nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam về mặt tổ chức và hoạt động quả là một yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển xã hội trong một quốc gia hòa bình, đồng thời khẳng định Phật giáo Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc trong mọi thời đại.
Cùng hòa nhịp với Phật giáo cả nước, năm 1982 Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Nghĩa Bình được thành lập do cố HT. Thích Kế Châu làm Trưởng Ban. Đến năm 1990 Bình Định tách ra từ tỉnh Nghĩa Bình và đến năm 1992, Ban Trị sự Tỉnh GHPG Bình Định mới chính thức được hình thành Nhiệm kỳ I (1992 – 1997) do cố HT. Thích Kế Châu làm Trưởng Ban Trị sự. Trong suốt 20 năm qua, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh cùng Tăng Ni đã thực hiện được nhiều Phật sự quan trọng trong việc duy trì và phát triển tinh hoa của Phật giáo, đào tạo nhiều thế hệ Tăng Ni trẻ để kế thừa sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh, tổ chức các đạo tràng nhằm hướng dẫn hàng Cư sĩ Phật tử tại gia tu học trong chánh kiến. Ban Trị sự Phật giáo tỉnh đã mở 04 Đại giới đàn vào các năm 1994 ĐGĐ Phước Huệ; năm 2000 ĐGĐ Chánh Nhơn; năm 2004 ĐGĐ Huệ Chiếu và năm 2009 ĐGD Giác Tánh để truyền giới cho hàng ngàn giới tử xuất gia, hàng chục ngàn giới tử tại gia. Trường Trung cấp Phật học Bình Định được hình thành từ năm 1992 đến nay đã đào tạo hoàn thành được 5 khóa với hơn 850 Tăng Ni sinh tốt nghiệp, khóa VI (2011 – 2014) hiện có 175 Tăng Ni đang theo học.
Theo thống kê, tính đến ngày 01 tháng 10 năm 2011, toàn tỉnh có 399 cơ sở Tự, Viện, Tịnh xá, Tịnh thất, Niệm Phật Đường, có 1158 vị Tăng Ni và 17.500 Phật tử tại gia. Hầu hết các Tổ đình, Tự, Viện, Tịnh xá, Tịnh thất… trong tỉnh đã được trùng tu, tái thiết khang trang. Các đạo tràng Bát Quan Trai, các khóa tu được tổ chức liên tục và số lượng ngày càng tăng, quy tụ hàng ngàn Thiện Tín Phật tử tham dự. Gia đình Phật tử sinh hoạt đều đặn trong lòng Giáo hội. Hằng năm các hoạt động Từ thiện xã hội lên đến hàng tỷ đồng, số tiền nầy đã được Tăng Ni và đồng bào Phật tử nhiệt tình ủng hộ.
Năm 1994, UBND tỉnh Bình Định đã bàn giao lại chùa Giáo hội Tỉnh, số 141 Trần Cao Vân, Tp. Quy Nhơn để làm trụ sở chính của Giáo hội Phật giáo tỉnh nhà. Sau đó Ban Trị sự tỉnh đã khởi công đại trùng tu Chánh điện, Hội trường quy mô như hiện nay. Ngoài những Phật sự tại tỉnh nhà, Ban Trị sự tỉnh đã phối hợp với Ban Hoằng Pháp Trung ương tổ chức Khóa Bồi Dưỡng Hoằng pháp ngắn ngày cho Tăng Ni các Tỉnh, Thành miền Trung và Tây nguyên vào năm 1999.
Trong lĩnh vực văn hóa, các lễ hội Phật giáo hằng năm tại tổ đình Thập Tháp và chùa Linh Phong thu hút hàng chục ngàn tín đồ Phật tử các nơi về tham dự. Về in ấn phẩm đã biên soạn và giới thiệu các đầu sách: “Danh mục Tự, Viện Phật giáo Bình Định; Long Bích Kế Châu Thi liên tập; Lược sử Văn học Phật giáo Việt Nam thời Đinh, Lê, Lý, Trần; Nghi thức Đại Đàn Dược sư thất châu; Câu chuyện Nhà sư Bình Định v.v... Đầu năm 2011, Ban Trị sự đã mở ra trang Web Phật giáo Bình Định (phatgiaobinhdinh.com), nhằm phổ biến các hoạt động của Phật giáo tỉnh nhà và giới thiệu những nét đặc thù của Phật giáo địa phương qua nhiều phương diện. Ngoài ra Ban Văn hóa định hướng xúc tiến việc biên soạn bộ lịch sử Phật giáo tỉnh nhà.
Kính thưa Quý vị!
Cùng với những thay đổi lớn lao của đất nước trên mọi phương diện của đời sống xã hội, có thể nói rằng Phật giáo Việt Nam đang có những bước chuyển mình rất ý nghĩa để viết nên những trang sử mới cho Đạo pháp và dân tộc.
Khi đời sống vật chất được nâng cao, nhu cầu tâm linh của người Phật tử nói riêng và của người dân Việt Nam nói chung đang thay đổi nhanh chóng. Nếu như cách đây hơn 20 năm người ta về chùa để cầu nguyện sao cho cuộc sống được ấm no, đủ ăn, đủ mặt, thì ngày nay, người Phật tử tại gia về chùa để tìm một pháp môn tu tập thích hợp nhằm thăng hoa đời sống tâm linh và người dân Việt Nam đang đến với đạo Phật để tìm ra những phương thuốc giải tỏa những trở ngại, căng thẳng trong đời sống vật chất thặng dư của mình. Do vậy, nhu cầu tâm linh của dân tộc Việt Nam đang thay đổi rất nhanh từ những tác động trực tiếp hay gián tiếp của nền kinh tế thị trường ngày nay.
Trong bối cảnh như thế, vai trò của Giáo hội trong việc lèo lái đúng hướng con thuyền Phật giáo Việt Nam ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết. Với tâm nguyện phụng sự chúng sanh để báo đáp ân đức của đức Phật và các bậc tiền nhân, Chư Tôn đức lãnh đạo Giáo hội đã thành tựu nhiều Phật sự quan trọng. Bên cạnh những thành tựu của Phật giáo Việt Nam trong thời gian qua, nhằm đóng góp ý kiến cho việc giữ gìn và truyền bá chánh pháp của Giáo hội được hiệu quả, đáp ứng những nhu cầu mới của thời đại ngày nay, đại diện cho Tăng Ni bản tỉnh, Ban Trị sự tỉnh GHPG Bình Định xin được đề đạt lên Chư Tôn Đức HĐTS TW một số nhận xét và kiến nghị sau:
- Cần chú trọng đến việc thống nhất thời điểm và địa phương trong việc tổ chức các Đại giới đàn trên toàn quốc. Việc tổ chức Đại giới đàn mà quá đề cao hình thức phô trương và số lượng giới tử, không chú trọng đến chất lượng nội hàm sẽ dần dần đánh mất đi tính thiêng liêng của việc thọ giới, làm ảnh hưởng đến việc tu học theo chánh pháp của các giới tử. Giáo hội cần trao đổi với Ban kiến đàn của các Đại giới đàn trong việc kiểm tra hạnh kiểm, tác phong, kiến thức về giáo lý và nhất là việc thuộc lòng hoặc am hiểu căn bản về giới luật của các giới tử. Sự dễ dãi trong việc quy định điều kiện đủ để thọ giới sẽ tạo một tiền lệ bất cập về sau trong các Đại giới đàn.
- Tổ chức những diễn đàn, những buổi tọa đàm và cho xuất bản những tác phẩm bàn về những thách thức lớn của Phật giáo, của thời đại như: Hòa hợp và đoàn kết tôn giáo, vấn đề hôn nhân khác tôn giáo, giữ gìn và bảo vệ môi trường, sử dụng hóa chất độc hại trong nông nghiệp và chăn nuôi ... Sự hoang mang, mất định hướng trong đời sống gia đình, đời sống tôn giáo, và đời sống xã hội của người Phật tử tại gia đang rất cần sự quan tâm và giải tỏa của các cấp lãnh đạo Giáo hội.
- Giáo hội Trung ương cần bàn thảo, tiếp xúc và có quan điểm chính thức đến các hiện tượng và các trào lưu mới đang nảy sinh trong môi trường Phật giáo hiện nay như:
+ Sự ra đời tự phát của các Ban hộ niệm trong nước do các nhóm cư sĩ tự đứng ra thành lập và tuân thủ theo nguyên tắc sinh hoạt riêng của mình, đôi khi sinh hoạt theo đường hướng của một vài cá nhân và tổ chức tại hải ngoại.
+ Sự hình thành các nhóm Phật tử tu Thiền, Tịnh, Mật theo cách thức của một số tổ chức Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại, hoặc một số tông phái Phật giáo thuộc các quốc gia khác.
+ Các phong trào trị liệu và hành trì mới lạ, khác xa với giáo lý đạo Phật nhưng lại nhân danh Phật giáo để dễ bề quảng bá, phô trương phong trào của mình. Cần kết hợp với các cơ quan chức năng nhanh chóng chặn đứng và giải quyết dứt khoát những trường hợp lợi dụng hình ảnh Phật giáo trong các ấn phẩm văn hóa nghe, nhìn, đọc với dụng ý riêng của các cá nhân và tổ chức phi Phật giáo.
- Đối với tầng lớp Tăng Ni trẻ đang theo học tại các trường Phật học các cấp, Giáo hội TW cũng như Ban Trị sự các Tỉnh, Thành cố gắng tạo điều kiện để các Tăng Ni sinh nội trú, hoặc tạm trú các Tự, Viện tại địa phương. Hội đồng điều hành các Học viện và Ban Giám hiệu các Trường cấm tuyệt đối việc Tăng Ni sinh cư trú tại nhà Phật tử, nhà riêng, hạn chế tối đa việc Tăng Ni cư trú tại các tịnh thất cá nhân nằm ngoài sự quản lý của Giáo hội.
- Trong lĩnh vực Giáo dục Phật giáo, Ban Giáo dục Tăng Ni Trung ương cần phải sưu tập chương trình và giáo án giảng dạy tại các Trường TCPH và các lớp Cao đẳng trên toàn quốc để đi đến thống nhất việc quy định thời gian và nội dung giảng dạy, đào tạo của các trường TCPH và các lớp Cao đẳng Phật học. Việc biên soạn và xuất bản sách giáo khoa cho các trường Phật học là một nhu cầu cấp thiết hiện nay.
- Để thúc đẩy việc phổ biến Phật pháp đến giới trẻ trong một quốc gia có dân số trẻ tuổi chiếm đa số như Việt Nam ngày nay, Giáo hội cần thành lập Phân Ban Thanh Thiếu Niên Phật tử trực thuộc Phân Ban Hướng dẫn Cư sĩ Phật tử và Phân Ban Hoằng Pháp Trẻ trực thuộc Ban Hoằng Pháp để quy tụ các doanh nghiệp trẻ, các tầng lớp học sinh, sinh viên cùng sinh hoạt và học hỏi Phật pháp theo tinh thần năng động, hiện đại, thích hợp với hoàn cảnh thực tế của xã hội ngày nay.
- Tổ chức biên soạn một bộ sách giáo lý dành cho tầng lớp thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên, trong đó nên trình bày giáo lý Phật giáo một cách súc tích, dễ hiểu, hợp với ngôn ngữ và tư duy mới. Bộ sách không chỉ thuần túy trình bày những giáo lý cơ bản mà còn gợi mở hướng giải tỏa những bế tắc trong đời sống tinh thần cùng những vấn đề thời đại mà giới trẻ hiện nay đang phải đối mặt như sự cô đơn trong cuộc sống, bạo lực học đường, sự tiêm nhiễm các căn bệnh xã hội, trào lưu hướng ngoại, quan hệ tình dục trước hôn nhân…
Trên đây là những kiến nghị rất chân thành phát xuất từ việc đánh giá những thay đổi và phát triển của Phật giáo Việt Nam trong thời gian vừa qua. Việc cập nhật những thông tin về những bất cập trong cộng đồng Phật giáo để từ đó đề xuất và đi đến thực hiện những giải pháp thỏa đáng là điều mà Tăng Ni, Phật tử các nơi trông mong từ phía Giáo hội.
Ba mươi năm là một khoảng thời gian đủ để nhìn lại những thành tựu cũng như những trở ngại khách quan và chủ quan của Giáo hội nói riêng và Phật giáo Việt Nam nói chung. Thiết nghĩ, sự đoàn kết, hòa hợp trong nội bộ của Giáo hội, sự gắn bó hài hòa giữa Giáo hội với Chính quyền, Cơ quan, Đoàn thể cũng như các Ban Trị sự Tỉnh Thành, việc đổi mới của Giáo hội trên phương diện hành chánh và tư tưởng chỉ đạo mang tính khoa học thời đại sẽ là những yếu tố căn bản để Giáo hội mãi luôn xứng đáng là điểm tựa vững chắc, là nơi hội tụ nội lực thực sự của Phật giáo Việt Nam trong thời đại hôm nay.
Kính chúc Chư Tôn Giáo phẩm, Chư Tôn Đức Tăng Ni và Quý Phật tử thân tâm an lạc, hạnh nguyện viên thành.
Kính chúc Chư vị quan khách luôn được nhiều sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt.
Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp.
THAM LUẬN
NHÂN DỊP KỶ NIỆM 30 NĂM THÀNH LẬP GHPGVN
CỦA BAN TRỊ SỰ PHẬT GIÁO TỈNH NGHỆ AN
Thượng tọa Thích Thọ Lạc
Ủy viên DK HĐTS GHPGVN
Phó Trưởng Ban Thường trực THPG Nghệ An
1. DẪN ĐỀ
Trong suốt chiều dài lịch sử hơn hai nghìn năm, sự ra đời của một tổ chức duy nhất đại diện cho Phật giáo Việt Nam trong nước vào ngày 07 tháng 11 năm 1981 là một bước chuyển mình có tính chất đột phá của Phật giáo nước nhà.
Sau 30 năm từng bước phát triển và kiện toàn hệ thống tổ chức qua các nhiệm kỳ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có nhiều thành tựu rực rỡ, được thể hiện qua nhiều lĩnh vực khác nhau. Đặc biệt phải kể đến số lượng hàng ngàn Tăng Ni được truyền trao giới pháp, kế thừa mạng mạch Như Lai. Cùng với đó là sự hình thành và phát triển của 4 trường Đại học, 8 lớp Cao đẳng và hơn 30 trường Trung cấp Phật học trên cả nước…
Những con số thống kê tiêu biểu ở trên trong lãnh vực Tăng sự và Giáo dục cho thấy qua các giai đoạn thăng trầm đó một cách sinh động và linh hoạt trong thời đại mới.
Tuy vậy, trước sự chuyển biến ngày càng nhanh của thế giới và đất nước, trước sự giao thoa đa dạng của các làn sóng văn hóa khác nhau, đứng lại tức là lạc hậu. Nhìn lại chặng đường 30 năm phát triển của Giáo hội Phật giáo nước nhà, đặc biệt trong lĩnh vực Tăng sự và Giáo dục, chúng ta chỉ nhìn thấy ở đó là sự phát triển tăng tốc về số lượng, trong khi chất lượng dường như chưa có sự chuyển biến tích cực.
Vẫn còn đó sự xuống cấp đáng báo động về đạo đức của một bộ phận Tăng Ni trẻ, vẫn còn đó sự lạc hậu trong đường hướng giáo dục như chương trình và phương thức giáo dục trước tình hình mới. Không ít Tăng Ni sau khi tốt nghiệp tại các trường Phật học không có khả năng vận dụng kiến thức đã học vào việc hành trì tu tập, hoằng pháp hoặc chí ít là quản lý hành chính hay tự viện…
Vẫn còn đó nhiều cơ sở tự viện chưa có người hướng dẫn và quản lý trong khi vẫn còn đó rất nhiều Tăng Ni phải thuê trọ nhà cư sỹ Phật tử hoặc ở am, ở thất… Là một tôn giáo gắn bó mật thiết và đồng hành cùng dân tộc, trở thành nền tảng và văn hóa sống của đại bộ phận dân cư vậy mà vẫn nhiều nơi, nhiều tỉnh thành, đặc biệt tại các vùng sâu vùng xa hay địa bàn dân tộc thiểu số, hình ảnh Tăng Ni vẫn chưa xuất hiện, ánh sáng Phật pháp vẫn chưa chiếu soi…
Thuận theo quy luật vô thường, nhiều bậc Tôn túc trưởng lão là long tượng của Phật giáo đã ra đi nhưng khoảng trống mà các Ngài để lại vẫn chưa ai có thế thay thế… Phải chăng, ở đó vẫn chưa có đủ sự tin cậy của các vị Tôn Túc đối với thế hệ hậu học hay phải chăng thế hệ trẻ chưa xứng đáng đón nhận niềm tin từ các vị trưởng lão?
Nhìn lại chặng đường 30 năm phát triển đã qua của Giáo hội Phật giáo như là nhìn vào tấm gương, không phải là để ngắm mình và hài lòng với những thành quả đã đạt được, mà trên cơ sở đó thấy được những ưu khuyết đang hiện hữu, từ đó cùng nhau ngồi lại, điều chỉnh thích hợp cho sự phát triển, không chỉ phát triển một cách nhanh chóng mà còn phát triển một cách vững chắc cho hiện tại cũng như tương lai…
2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Những vấn đề trên chỉ là một trong nhiều những vấn đề mà Giáo hội đang phải đối mặt. Trước lịch sử hàng nghìn năm của Phật giáo nước nhà, trước trọng trách và sứ mệnh của một đệ tử Như Lai, trước sự tồn vong của Phật pháp khiến chúng ta không khỏi không thao thức đắn đo.
Nhân buổi hội thảo chào mừng 30 năm thành lập Giáo Hội Phật giáo Việt Nam, con xin được nêu một vài ý kiến nhỏ ở một vài lĩnh vực như sau:
a. Về việc quản lý Tăng Ni:
Có một thực tế đáng buồn là hiện nay mặc dù mỗi Đàn giới được tổ chức uy nghiêm và chặt chẽ với số lượng Tăng Ni mỗi năm lên con số hàng nghìn, nhưng sau khi Giới đàn đã viên mãn, dường như Giáo hội vẫn chưa thực sự quan tâm, sắp xếp và quản lý những con số như vậy.
Một người mới xuất gia tu học thì cần nương tựa vào một vị Bổn sư hay Y chỉ sư. Khi còn ở chung trong một tự viện nhất định nào đó thì còn có sự quản lý chặt chẽ, nhưng nếu cho đi học ở các tỉnh thành phố lớn, sự quản lý của các vị Bổn sư hay Y chỉ sư lỏng lẻo dần. Tại các trường Phật học lớn, các trường dường như vẫn là thả lỏng để mỗi người tự giác.
Chính sự quản lý thiếu chặt chẽ như vậy, trước sự đưa đẩy của hoàn cảnh bên ngoài khiến không ít những mầm non tương lai của Phật giáo bị thui chột. Cổ nhân từng dạy: “Tăng ly chúng Tăng tàn, hổ ly sơn hổ bại”, vì vậy để đảm bảo có thể nuôi dưỡng hạt giống Bồ đề cho tươi tốt rất cần đến sự bảo bọc của Tăng đoàn.
Giáo hội được thành lập không phải chỉ đơn giản là kiện toàn tổ chức về mặt hình thức mà trên tất cả, đó là một môi trường Tăng thân để nuôi dưỡng và ấp ủ những hạt giống Bồ đề trong tâm thức mỗi người dược bén rễ.
Muốn làm được điều đó, cần phải có sự liên kết chặt chẽ giữa Ban đại diện Phật giáo tại địa phương với cá nhân từng vị trụ trì. Mỗi một Tăng Ni là một đóa hoa của Giáo hội, muốn đóa hoa đó được nở rộ thì cần phải được nuôi dưỡng dài lâu. Giáo hội chúng ta dường như vẫn chưa quan tâm trực tiếp đến từng con người, từng cá nhân như vậy.
Khi thiếu sự quan tâm, giúp đỡ và chia sẻ những lúc cần thiết thì việc điều động, sắp xếp nhân sự của Giáo hội trở nên bị động. Có nơi thừa, có nơi thiếu, có nơi dường như hoàn toàn không được quan tâm đến. Một Giáo hội mà giáo quyền chỉ nhắm vào việc quản lý hành chính tự viện nhưng không có khả năng tác động đến từng con người tham gia trong Giáo hội thì đó là một khiếm khuyết lớn. Nếu sự kết hợp giữa Giáo hội với vị Bổn sư, Y chỉ sư hay Trụ trì các tự viện càng thêm bền thêm chặt thì sự điều phối Tăng Ni trong các kế hoạch ngắn hạn hay dài hạn của Giáo hội mới có tính khả thi, ngược lại thì chúng ta vẫn phải trông chờ vào sự phát tâm của từng người tu học.
b. Về tổ chức nhân sự hành chính
Đối với việc tổ chức nhân sự hành chính, đã từ lâu, những Tôn túc vẫn thường kêu gọi trẻ hóa đội ngũ quản lý. Chỉ có thông qua việc trẻ hóa nhân sự thì Giáo hội mới có thể nhanh chóng chuyển mình theo sự thay đổi của thời cuộc.
Tuy vậy, vì đây là một tổ chức tôn giáo chứ không phải là một tổ chức chính trị hay khoa học nên tài năng không phải là yếu tố quyết định cho việc sắp xếp vị trí. Chính đạo lực, đạo hạnh và tầm ảnh hưởng mới là yếu tố quyết định.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam chỉ là một thành tố trong rất nhiều tổ chức khác nhau của xã hội. Dù muốn dù không thì sự thay đổi của xã hội cũng dẫn đến sự thay đổi của một tổ chức, dù đó là tổ chức tôn giáo. Vì thế, trước sự năng động của xã hội, đòi hỏi những người lãnh đạo Giáo hội không chỉ là người có đạo lực, đạo hạnh mà cần có tầm nhìn, tài năng, tâm huyết như uyển chuyển một cách hài hòa.
Trẻ hóa nhân sự lãnh đạo, không chỉ là trẻ hóa những vị quản lý tự viện cấp cơ sở mà còn là trẻ hóa lãnh đạo Giáo hội các cấp. Ngay từ khi thành lập, đã có một sự phân định ngầm rằng Hội đồng Chứng minh là hội đồng trưởng lão của các vị tôn túc, là long tượng, là mạch ngầm, là chỗ dựa cho Tăng Ni tu học; còn Hội đồng Trị sự là cơ quan dành cho những người đủ sức khỏe, đủ tài năng thực hiện các việc Phật sự chung của Giáo hội.
Để đảm bảo hai yếu tố tài và đức, trí thức và đạo lực đối với nhân sự lãnh đạo các cấp Giáo hội, thiết nghĩ nên xây dựng một bảng mẫu, trong đó đề ra tiêu chuẩn chung như tuổi tác, bằng cấp… để Ban Trị sự các tỉnh thành tùy theo hoàn cảnh từng địa phương, dựa vào đó thuận lợi cho việc bố trí và sắp xếp nhân sự.
c. Về đổi mới chương trình giáo dục:
Giáo dục đối với quốc gia là quốc sách hàng đầu thì đối với Giáo hội chính là đầu tàu thúc đẩy tất cả các Ban ngành khác hoạt động một cách hiệu quả. Chỉ thông qua các giáo dục thì người tu học mới có điều kiện và cơ sở cho việc khai mở trí tuệ và hoằng pháp độ sinh…
Sau 30 năm, một khoảng thời gian chưa phải là dài so với lịch sử của Phật giáo nước nhà, nhưng cũng không phải là ngắn đối với một thế hệ đã có những bước phát triển vượt bậc và rõ nét trong lĩnh vực giáo dục của Giáo hội.
Hệ thống các cấp học ngày càng hoàn thiện, giáo trình mỗi ngày một chặt chẽ. Nhiều bậc học, nhiều chuyên ngành được mở ra đáp ứng kịp thời với sự tiến bộ của xã hội.
Tuy nhiên, sau 30 năm, thành quả đạt được đã có, nhưng nếu sau 30 năm nữa mà chúng ta tiếp tục đi theo hướng này thì đó có thể là một bước lùi nhất định nào đó. Một người xuất gia đích thực không lấy bằng cấp tri thức làm thước đo mà chính là hương vị giải thoát tỏa ra từ công phu tu hành và nội tâm sâu thẩm. Nếu Giáo hội trong tương lai vẫn đặt nặng vào việc phát triển trí năng và hình thức thì dần dần người tu có thể bị rơi vào chướng ngại của “thế trí biện thông”. Thay vì phát triển theo hướng như vậy, thời gian tới Ban Giáo dục Tăng Ni nên quan tâm hơn nữa vào chiều sâu trong tri thức lẫn chiều sâu trong đạo đức. Các chuyên ngành nên có nội dung cụ thể thích hợp cho từng lãnh vực nhất định.
Bên cạnh việc đạo tạo chuyên sâu nội điển, Giáo hội cũng nên mở thêm các chuyên ngành mới đáp ứng hơn nữa với nhu cầu của thời đại, chẳng hạn Chuyên ngành Truyền thông, thông qua báo chí, website, truyền hình… để có thể đưa Phật pháp đến từng ngõ ngách của đời sống. Các chuyên ngành ngoại ngữ, ngoài chức năng là công cụ nghiên cứu, cũng cần phổ cập đại trà để Tăng Ni có thể cập nhật và truyền tải thông tin nhanh chóng giữa trong nước với quốc tế.
b. Về phổ cập Văn hóa Phật giáo:
Không phủ nhận nét tinh túy của Đạo Phật chính là những tư tưởng triết lý vừa thâm trầm vừa sâu sắc mà khó có học thuyết triết học nào có thể so sánh được. Tuy vậy, việc phổ cập hóa những tư tưởng đó đến với đời sống bình dân thường gặp nhiều khó khăn do những bất cập về nền tảng kiến thức.
Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác hoằng pháp, từ thiện… sao cho mỗi người dân nhìn thấy những đóng góp thiết thực của Phật giáo cho xã hội, việc truyền bá lối sống và những hình thức sinh hoạt văn hóa mang tính Phật giáo thông qua cách đi, đứng, nằm, ngồi; thông qua cách uống trà, cách giao tiếp… cũng là một kênh quan trọng việc hoằng pháp mà bấy lâu nay dường như chúng ta đã lơ đãng.
Thiết nghĩ việc tổ chức một vài buổi trà đạo, triển lãm tranh ảnh, tổ chức hội chợ, giao lưu văn hóa nghệ thuật… luân phiên theo từng quận, huyện hoặc nếu có thể ở một vài cơ sở tự viện điển hình trong quận cũng là một cách đưa Phật giáo đến gần hơn với sinh hoạt thường nhật của người dân, đồng thời cũng là cách đưa mọi người đến gần hơn với Phật giáo thông qua cách sống và cách sinh hoạt từ bi thánh thiện thường nhật.
3. KẾT LUẬN
Là đơn vị Giáo hội cấp tỉnh thứ 58 trong cả nước, được sự cho phép của Giáo hội và cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Nghệ An mới được thành lập vào ngày 23/9/ 2011. Một Ban Trị sự còn non trẻ, cả về kinh nghiệm lẫn tuổi tác, vẫn còn đó rất nhiều những dự định vẫn đang ở thời tương lai.
Với một tổ chức thành lập trễ nhất so với các tỉnh thành phố khác, đối với một mảnh đất giàu truyền thống lịch sử và là nơi in dấu chân hóa độ của nhiều thế hệ Cao tăng Việt Nam như Nghệ An là một thiệt thòi lớn. Bên cạnh những thiệt thiệt thòi đó thì đây cũng chính là cơ hội để Phật giáo Nghệ An có thể học hỏi kinh nghiệm đi trước ở các tỉnh thành khác với mong ước “đi tắt đón đầu”.
Những kiến nghị nhỏ bé của con trước Hội thảo không chỉ là những dự định mà Phật giáo Nghệ An mong muốn xây dựng, đó còn là tâm nguyện thiết tha của hàng hậu học chúng con trước tiền đồ Phật giáo. Xã hội càng lúc càng phát triển như vũ bão, chúng vừa là cơ hội cho Phật giáo cất cánh bay cao, vừa là thử thách để Phật giáo vẫn là một tôn giáo lấy yêu thương và hiểu biết làm sự nghiệp duy nhất mà bao đời nay các bậc thạc đức Cao tăng đã dày công tạo dựng.
Thay mặt Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Nghệ An, chúng con kính chúc Hội nghị thành công tốt đẹp.
THAM LUẬN
CHÀO MỪNG 30 NĂM THÀNH LẬP GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
TKN. Thích nữ Như Như
Kính thưa quý vị Đại biểu,
Kính thưa Hội nghị,
Ba mươi năm, đủ rồi để Giáo hội Trung ương và các Tỉnh Thành nhìn lại chặng đường lịch sử đã đi qua, để nhận diện rõ những thế mạnh cũng như những hạn chế còn tồn đọng, nhằm rút ra bài học kinh nghiệm cho chương trình Phật sự của nhiệm kỳ tới.
Trong bài tham luận này, tôi xin nêu lên những nhận xét của bản thân về tình hình hiện nay của Giáo hội và đóng góp một vài ý kiến vì sự nghiệp phát triển chung của Phật giáo nước nhà.
- I. Thế mạnh và hạn chế hiện nay của Giáo hội
- 1. Những điểm mạnh
Đồng hành cùng dân tộc xuyên suốt chiều dài lịch sử, những đóng góp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong sự nghiệp phát triển và bảo vệ tổ quốc 30 năm qua là điều không thể phủ nhận.
Theo tình hình hiện nay, số lượng Tăng Ni mỗi lúc một đông, tạo nên một khối lực lượng đáng kể cung ứng cho các nhu cầu Phật sự từ Trung ương đến địa phương.
Riêng ngành giáo dục Tăng Ni, hàng năm 4 Học Viện Phật giáo và các trường Trung cấp Phật học, các lớp Cao đẳng Phật học trong toàn quốc đã đào tạo hàng nghìn Tăng Ni. Sau khi tốt nghiệp, phần lớn các Tăng Ni trẻ đã tham gia vào công tác lãnh đạo Giáo hội từ Trung ương đến địa phương. Những năm gần đây, nhiều Tăng Ni sau khi tốt nghiệp các khoá nghiên cứu sau Đại học ở nước ngoài đã trở về nước tham gia giảng dạy và phục vụ tại nhiều ban ngành của Giáo hội.
Ngoài ra, điểm khởi sắc nhất trong thời gian gần đây là ngành Hoằng pháp đã có những hoạt động rất tích cực phổ cập đến giới trẻ như các Khoá tu mùa hè, Hội trại hè v.v…Kinh sách nhiều, băng đĩa lắm, các hội thảo, chương trình hoằng pháp được tổ chức quy mô hoành tráng khiến ta có cảm tưởng Phật giáo đang nở rộ như vườn hoa ngát hương.
Những mở rộng chiều ngang, chiều dọc mang tính quốc tế như Đại Hội Vesak 2008, Sakyadditta 2010 v.v… quả thực đã nâng Việt Nam lên tầm cao mới, mở ra những đường hướng mới cho Phật giáo nước nhà trong thời hội nhập. Những thành quả ấy thật đáng vui mừng và đáng trân trọng, khiến cho giới Phật giáo trong và ngoài nước vô cùng phấn chấn, hoan hỷ.
Tuy nhiên, nhìn thẳng vào hiện trạng của Giáo hội, chúng ta thấy vẫn còn đó nhiều điều đáng trăn trở, ưu tư.
- 2. Những hạn chế
Giáo hội hiện nay đang sở hữu số lượng lớn Tăng Ni được đào tạo ở các cấp học như Cử nhân, Thạc sĩ, Tiến sĩ, nhưng đầu vào thì có mà đầu ra vẫn chưa thông. Tăng Ni học xong ra trường vẫn chưa được đưa vào phục vụ Giáo hội triệt để, phần vì chư Tôn đức e ngại việc thiếu kinh nghiệm của họ, phần vì chính bản thân họ cũng không đủ tự tin để dấn thân.
Mặt khác, ngành Hoằng pháp chưa có một mô hình cụ thể nào trong việc phân bổ giảng sư đến với các vùng sâu, vùng xa, mà chỉ đơn thuần dựa vào sự tình nguyện của cá nhân hoặc một nhóm nhỏ trong Tăng Ni. Chính điều này đã tạo nên thế mất cân bằng về lực lượng. Các tỉnh thành trung tâm, như Tp. HCM và các tỉnh phụ cận, tập trung quá nhiều giảng sư trong khi những vùng quê hẻo lánh thì hết sức hiếm hoi.
- 3. Các thể loại văn hoá phẩm Phật giáo như băng đĩa, kinh sách, truyện v.v… cần phải được Ban Văn hoá giám định, kiểm duyệt mới được phép in ấn và phát hành.
- 4. Đối với các hành vi giả dạng Tăng Ni khất thực, quyên góp, và hành xử phi pháp của Tăng Ni, Giáo hội – đặc biệt ngành Tăng sự cần có biện pháp thoả đáng để loại trừ các tiêu cực trên, nhằm giữ gìn sự thanh tịnh trong giáo đoàn Phật giáo.
- 5. Với số lượng chư Ni đông như hiện nay, nếu tích cực bổ dụng, Giáo hội sẽ có trong tay một nguồn nhân lực dồi dào, phục vụ tốt trong mọi ban ngành từ Trung ương đến địa phương như Giáo dục, Văn hoá, từ thiện v.v… Nói chung, cần đào tạo và đưa vào sử dụng những nhân tố trẻ kế thừa mạng mạch Phật pháp, đồng thời có cái nhìn thóang đạt hơn trong vấn đề công nhận tính pháp lý của Phân ban đặc trách Ni giới.
- II. Kết luận
Từ xưa đến nay, những chuẩn mực trong giá trị đạo đức của Phật giáo đã ăn sâu vào suy nghĩ, hành vi và nếp sống của quần chúng, trở thành chỗ dựa tâm linh vững chắc đối với đại đa số người dân Việt Nam.
Với phương câm “Phật giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc”, thiết nghĩ, Giáo hội cần tích cực hơn nữa trong việc giữ vững những giá trị nhân văn sâu sắc mà Phật giáo đã đem lại, những hạn chế như đã nêu cần phải được khắc phục, những điểm mạnh cần phải được phát huy triệt để.
Mỗi kỳ Đại hội Phật giáo Toàn quốc là mỗi cột mốc đánh dấu một chặng đường phát triển và thành tựu, đúc kết lại những mặt mạnh và mặt yếu để chuẩn bị cho một nhiệm kỳ mới với những kế hoạch phát triển mới. Những ý kiến đóng góp nêu trên tất cả cũng chỉ vì mục tiêu “Tốt đạo – đẹp đời”.
Kính chúc Hội nghị thành công tốt đẹp.
ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA PHẬT GIÁO TỈNH BẠC LIÊU
Đại đức Thích minh Lành
Phó Trưởng ban Thường trực
BTS Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu
Bạc Liêu là tỉnh thứ XX, một trong 20 tỉnh thời Nam kỳ thuộc Pháp, tuy ra đời muộn hơn các tỉnh khác, nhưng lại là một tỉnh có bề dày lịch sử rất lớn và đặc điểm văn hóa thật nhiều. Phật giáo đã đóng góp một phần rất lớn trong quá trình hình thành, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tỉnh nhà. Từ thời kỳ khai hoang lập ấp đến khi tỉnh Bạc Liêu ra đời và cho đến nay, Phật giáo Bạc Liêu luôn đồng hành cùng ba dân tộc anh em để làm nên những trang sử hào hùng qua những lần chống ngoại xâm, bảo vệ quê hương xứ sở, đồng thời thắt chặt tay nhau trong suốt chặng đường phát huy văn hóa, sáng tạo văn học nghệ thuật, không những đã nâng cao vai trò của Phật giáo, làm lớn mạnh Giáo hội, mà còn phục vụ đồng bào Phật tử và quần chúng nhân rất tích cực qua mọi thời kỳ lịch sử.
Đặc điểm văn hóa Phật giáo Bạc Liêu, đây là một đề tài lớn có cả chiều rộng lẫn chiều dài, vì vậy trong khuôn khổ bài tham luận chỉ nêu khái quát một số đặc điểm văn hóa tiêu biểu như sau:
I. DI TÍCH CHÙA THÁP VĨNH HƯNG CÓ NHỮNG DI VẬT KHẢO CỔ TRÊN NGÀN NĂM
Trong quần thể di tích chùa tháp Vĩnh Hưng thuộc huyện Vĩnh Lợi tỉnh Bạc Liêu, ngoài chùa Phước Bửu còn có một ngôi tháp được gọi là tháp cổ Vĩnh Hưng, về niên đại ra đời của ngôi tháp hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau, nhưng căn cứ vào những di vật thu được qua những lần khai quật thì ngôi tháp cũng đã tồn tại trên dưới một ngàn năm trăm năm, đã được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định số 983 ngày 04/08/1992 liệt vào danh mục di tích lịch sử văn hóa. Tháp còn có tên dân gian là tháp Trà Long, tháp Lục Hiền, nguyên là tên hai vị trụ trì trước đây. Tháp cổ Vĩnh Hưng do một nhà khảo cổ người Pháp phát hiện năm 1911, được nhà cầm quyền thời đó xếp hạng thứ 14 trong danh mục các di tích lịch sử ở Nam kỳ. Trong thế kỷ XX, người ta đã phát hiện tấm bia khắc chữ Phạn ghi rõ tháng 814 tương ứng với năm 892 (sau CN) ở cạnh tháp.
Khi chưa được trùng tu, đứng từ xa, trông ngôi tháp có khối hình trụ đứng sừng sững giữa rừng cây, trên một doi đất, chân tháp hình chữ nhật, một cạnh dài 5,6m; cạnh kia dài 6,9m, cao 8,9m với dáng vẻ cổ kính. Ngôi tháp một phần bị rong rêu phủ, còn lại nhiều chỗ gạch loang lỗ khuyến sâu vào gần bên trong lòng tháp bởi thời gian dài chịu ảnh hưởng của mưa nắng. Tháp cổ Vĩnh Hưng mang những đường nét kiến trúc rất lạ, ở Nam bộ chưa có một nơi nào giống hoặc gần giống như vậy. Tuy nhiên, tháp có cấu trúc khá đơn giản, có một gian hình chữ nhật, tường dày, nóc cao uốn thành vòm với một cửa chính.
Về kỹ thuật chế tác gạch và cấu trúc kết dính gạch với nhau không có khoảng đệm ở giữa. Ngày nay, trong xây dựng người ta dùng chất liệu kết dính bằng xi măng hoặc trước đó dùng vôi vữa, nhưng ở đây người xưa đã có kỹ thuật xây dựng hết sức độc đáo mà các nhà khoa học bây giờ vẫn chưa lý giải thống nhất – họ dùng chất kết dính có nguồn gốc thực vật, hay áp dụng phương pháp mài những viên gạch gạch chưa nung xếp chồng lên thành hình ngôi tháp, xong mới phủ rơm và đất nung gạch, hay là dùng một kỹ thuật nào khác… Về phần thân tháp thì gạch xây ở đoạn dưới có màu đỏ còn đoạn trên có màu rắng, có lẽ khi trùng tu người ta đã dùng những loại gạch của những thời kỳ lịch sử khác nhau.
Trong tháp có một bàn tay tượng thần bằng đồng; một phần thân dưới của tượng nữ thần; tượng nữ thần bằng đá xanh; tượng nữ thần Brahma mặt bằng đồng; đầu tượng Phật bằng đồng..., một số vật thờ khác. Bên ngoài sân, chung quanh tháp cũng có nhiều di vật lộ thiên bằng sành sứ… Năm 1992, trong lần khai quật đầu tiên, một số cổ vật liên quan đến đời sống Phật giáo và những di vật có liên quan đến di tích văn hóa Óc Eo đã được phát hiện. Đến giữa tháng 9 năm 2011, tỉnh Bạc Liêu quyết định khai quật lần thứ 3. Sau một tháng, đến ngày 17 tháng 10 việc khai quật tháp cổ Vĩnh Hưng Bạc Liêu do Trung tâm Nghiên cứu khảo cổ đảm nhiệm phần chuyên môn dưới sự giám sát của Bảo tàng tỉnh Bạc Liêu đã kết thúc. Trong lần khai quật này cũng thu được nhiều di vật giá trị của các thời kỳ văn hóa. (Các di vật đang được Bảo Tàng tỉnh Bạc Liêu bảo quản).
Mỗi năm cứ đến rằm tháng Giêng âm lịch, chùa Phước Bửu đều tổ chức lễ Thượng ngươn, hàng ngàn đồng bào Phật tử và thập phương bá tánh đã tề tựu về đây bái Phật cầu gia hộ. Trong quần thể di tích chùa tháp Vĩnh Hưng, trong đó ngôi tháp có giá trị về mặt lịch sử, ngôi chùa có giá trị về mặt tâm linh, đa số du khách đến đây để chiêm bái hơn là để tham quan du lịch, nhưng trên thực tế chùa Phước Bửu còn quá nhỏ nếu so với tầm vóc ngàn năm của ngôi tháp, vì vậy chúng tôi đề xuất Nhà nước và các ngành hữu quan có kế hoạch nâng cấp chùa Phước Bửu như tạo quỹ đất rộng hơn, xây dựng chùa lớn hơn để có một cảnh quan vừa hài hòa, vừa đẹp để thu hút du khách trong và ngoài nước, đồng thời để phục vụ quần chúng nhân dân một cách thiết thực hơn.
II. CỔ NHẠC BẠC LIÊU CÓ MỐI QUAN HỆ MẬT THIẾT VỚI PHẬT GIÁO
Cổ nhạc Bạc Liêu là một loại hình văn hóa phổ thông, hiện nay đã có một vị trí rất đặc biệt ở Nam bộ, riêng bản Vọng cổ còn đang vươn xa đến các nước trên thế giới. Đây là một vấn đề rất cũ, có nhiều người biết, nhưng có một vấn đề chưa được nghiên cứu đến, đó chính là Mối quan hệ của cổ nhạc Bạc Liêu và Phật giáo. Một số vấn đề cần nên bàn luận như sau:
Nhân vật được đề cập trước nhất là Nhạc Khị, người đã được giới cổ nhạc tôn xưng là Hậu tổ, ông là thầy của Cao Văn Lầu, Trịnh Thiên Tư, Mộng Vân, Ba Chột, Tư Bình… ông đã đào tạo một lực lượng nghệ nhân, nghệ sĩ ưu tú cho phong trào Đàn ca tài tử và Cải lương Nam bộ, nhưng ít người biết ông đã đào tạo những đồ đệ nổi tiếng này từ những thập niên đầu thế kỷ XX tại chùa Vĩnh Phước An, phường 2 thành phố Bạc Liêu.
- Người thứ hai là Sư Nguyệt Chiếu, người đã đặt tên cho bản Dạ cổ hoài lang, ông có công lớn trong việc chỉnh tu và hệ thống bài bản Nhạc lễ cổ truyền, cũng chính là người đào tạo ra Năm Nghĩa, Sanh Xía, Ba Khuê… tại chùa Vĩnh Đức; đây là những nghệ sĩ từng một thời nổi danh.
- Một người có giọng ca bằng vàng, từng được gọi là đệ nhất danh ca trong những năm đầu thế kỷ XX đó là nghệ nhân Bảy Kiên, ông nguyên là một tu sĩ ở chùa Vĩnh Hòa pháp danh là Chơn Thành.
- Ông Cao Văn Lầu, tác giả bản Dạ cổ hoài lang, hiện nay là một nhân vật không chỉ nổi tiếng ở Việt Nam mà tên tuổi ông còn vang xa ra các nước, nhưng có một điều ít ai biết thuở thiếu thời ông là một chú tiểu ở chùa Vĩnh Phước An, đệ tử của Hòa thượng Minh Bảo, khi sáng tác bản Dạ cổ hoài lang cũng ở ngôi chùa này.
- Nghệ sĩ Năm Nghĩa tên thật là Lư Hòa Nghĩa, vừa là cha vừa là thầy của nghệ sĩ Thanh Nga và Bảo Quốc, ông là người đầu tiên biến đổi bản Dạ cổ hoài lang thành bản Vọng cổ, nhưng bản Vọng cổ đầu tiên lại mang tên Văng vẵng tiếng chuông chùa, sau này khi thu dĩa mới đổi lại thành Vì tiền lỗi đạo, chính bản này Năm Nghĩa cũng sáng tác tại chùa Vĩnh Phước An.
- Danh cầm Ba Chột tác giả bản Liêu Giang, một bản cổ nhạc nổi tiếng ở Bạc Liêu, song song với bản Dạ cổ hoài lang của ông Cao Văn Lầu, bản này cũng được sáng tác tại chùa Vĩnh Phước An.
- Hiện nay mồ mả của ông bà Nhạc Khị, Bảy Kiên, Ba Chột… những bậc tiền bối của cổ nhạc Bạc Liêu đều được chôn cất ở phía sau chùa Vĩnh Phước An.
Đề nghị trong nhiệm kỳ tới chúng ta nên có một công trình khoa học để nghiên cứu thấu đáo mối liên quan giữa Phật giáo và cổ nhạc Bạc Liêu, một vấn đề rất quan trọng trong lịch sử phát triển của Phật giáo tỉnh Bạc Liêu và của Cổ nhạc Nam bộ.
III. NÉT VĂN HÓA TRONG NGÔI NHÀ CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ KHMER
Nhà ở của người Khmer ngày nay về hình dáng, vật liệu kiến trúc cũng gần giống nhà của người Kinh và người Hoa, nhưng ngày trước thì nhà của người Khmer có nhiều điểm khác biệt. Những gia đình Khmer sống trên đất giồng thì nhà thường cất trên mặt đất, còn những người sống ở nơi đất thấp họ phải cất nhà sàn, nhà thường nhỏ nhưng nóc cao, mái rất dốc và thường được lợp bằng lá dừa nước, ở các vùng gần biên giới người ta dùng lá dừa nước chằm lại từng miếng trước khi lợp, người Khmer thường gọi là Slấc đành đóp và người Kinh gọi trại là lá chằm đóp, các vùng khác ở Tây Nam bộ thì dùng nguyên tàu lá chỉ xé dọc làm hai, khi lợp sẽ xếp chồng lên nhau gọi là một đôi, một số nơi còn dùng cây lồ ô xẻ dọc lợp âm dương rất khéo. Về khung sườn nhà của những người Khmer ở miền Đông thường dùng các loại gỗ quí như dầu, chò, thau lau phối hợp với các loại tre, nứa, lồ ô, le, bương... còn đa số những người ở miền Tây thì sử dụng các loại tràm, đước, cóc, dà, lục bình (cây mai), tre gai. Họ dừng vách bằng lá dừa nước, thông thường thì lá bên ngoài sóng bên trong, cũng có một cách dừng vách đâu sóng, theo cách này thì cả vách trong vách ngoài đều thấy toàn sóng còn lá được ém kín ở giữa trông rất đẹp. Nhà lớn thường có hai cái, cái trên cái dưới, mỗi cái ba gian, nhà nhỏ thường một căn một chái cũng gần giống như nhà người Kinh, loại chái bát vần của người Khmer được làm với kỹ thuật khá cao. Người Khmer có một tập quán rất tốt đẹp là họ luân phiên phụ giúp với nhau gọi là vần công cất nhà.
Người Khmer tuy cũng có giàu nghèo cao thấp khác nhau, nhưng cách bày trí xếp đặt bên trong nhà của họ đa số đều gần giống nhau; thường thì nhà trước là nhà khách có một bộ bàn ghế dài (tố, cào ây, tốc tăng) hoặc một bộ ván ngựa (kđa) lớn để ở giữa, hai bên là hai bộ ván ngựa nhỏ hoặc là hai chiếc chỏng tre để đàn ông con trai trong nhà nghỉ ngơi, nếu khi có khách thì nhường cho khách nghỉ, phía sau thường có một hoặc hai chiếc tủ (tu), bên trong đặt những chiếc gối thêu (khnơi) rất đẹp để biểu lộ sự khéo tay của phụ nữ trong nhà. Nhà nào cũng có bàn thờ Phật ở gian chính, đôi khi cũng được đặt trên đầu tủ một cách đơn giản nhưng rất trang trọng. Người Khmer ngày xưa không có phong tục thờ tổ tiên trong nhà nhưng do dung nạp tín ngưỡng của người Kinh, người Hoa nên có một số gia đình người Khmer ngày nay cũng có thờ tổ tiên, họ thờ riêng hoặc thờ chung trên bàn thờ Phật, thường thì ảnh người quá cố được đặt dưới ảnh Phật.
Phía sau phòng khách, nếu nhà khá giả thì ngăn phòng cho vợ chồng chủ nhà (bành túp), phòng con cái, nhất là con gái luôn có phòng riêng (bành túp khnông côn kro mum), nếu nhà nghèo cũng che một góc cho con gái. Người Khmer thường nằm quay đầu về hướng Nam, vì hướng Nam người Khmer gọi là tức skhang tabôn, cho đó là hướng ngọc (tabôn) và ít khi nào hướng chân người này đạp lên đầu người kia vì họ luôn tin rằng trên đầu của mỗi người đều có thần thánh ngự trị. Sau cùng là nhà dưới, bếp và bồ lúa được đặt ở đây, nếu gia đình không có nhà dưới thì bếp được đặt ở chái nhà. Nhà tắm thì luôn được đặt ngoài hè hoặc phía sân sau.
Tuy hiện nay trong các phum sóc vùng sâu vùng xa cũng còn có nhiều nhà lá, nhưng những căn hộ gần chợ hoặc ở cặp lộ, ven sông đa số đều được xây bằng gạch ngói; còn nhà sàn, nhà cao cẳng đã bớt dần, thậm chí có nơi không còn thấy, hầu như đã thay bằng những căn nhà được xây dựng trên nền đất. Nhưng dù là nhà lá hay nhà gạch của người Khmer cũng đều có sự thay đổi rất lớn, đặc biệt bộ phận nóc không còn nhọn như ngày xưa, mỗi căn hộ đều được xây dựng theo hình chữ Đinh, hoặc trước sau đâu mái, cửa nẻo thì làm chắc chắn chớ không bỏ ngỏ như ngày xưa... có một số nhà còn xây cất theo các kiểu Âu Mỹ. Nhưng cho dù các loại nhà cửa có thay đổi bề ngoài theo trào lưu tiến hóa thì sự bày trí bên trong vẫn giữ được dáng dấp cổ xưa, từ cái bàn thờ Phật đến cái bộ “đi văng”, tủ chưng ly, chưng gối, ghế bàn tiếp khách và cả những chiếc chỏng tre trong nhà đều được đặt theo những vị trí cố định. Ngôi nhà người Khmer hiện nay dù có thay đổi ít nhiều, nhưng vẫn thể hiện được nét văn hoá đặc thù của mình, vẫn giữ gìn được truyền thống tốt đẹp đã lưu truyền từ nhiều thế kỷ qua.
IV. QUÁN ÂM PHẬT ĐÀI – ĐỊA ĐIỂM VĂN HÓA TÂM LINH TIÊU BIỂU Ở BẠC LIÊU
Một nơi có sức thu hút lớn nhất ở Bạc Liêu đối với khách hành hương, du lịch chính là Quán Âm Phật Đài, một điểm du lịch mang màu sắc văn hóa Phật giáo tọa lạc trên bờ biển Bạc Liêu. Số lượng du khách từ các nơi về đây chiêm bái những năm gần đây đều trên dưới bốn trăm ngàn lượt người.
Đây là một công trình văn hóa tâm linh nổi bật nhất ở Bạc Liêu. Thánh tượng Bồ tát Quán Thế Âm đã được khởi công xây dựng từ năm 1973 do chủ trương của Ban Đại diện Phật giáo tỉnh Bạc Liêu (ngày nay gọi là Ban Trị sự Phật giáo tỉnh), lúc đó Hòa thượng Thích Trí Đức làm Chánh Đại diện đã chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình thực hiện; do khéo léo vận động của Hòa thượng và các thành viên Ban Đại diện nên suốt thời gian xây dựng đã được sự tham gia đóng góp nhiệt tình của bà con Phật tử và các nhà hảo tâm xa gần, nhất là Bác sĩ Nguyễn Tú Vinh (Hội trưởng Hội Hồng Thập Tự thời điểm đó) đã đóng góp một phần công sức rất lớn. Thánh tượng cơ bản hoàn thành vào đầu năm 1975, tượng cao mười một mét (chưa kể chân đế), đứng sừng sững bên bờ biển Đông thuộc khu vực ấp Nhà Mát, xã Hiệp Thành (nay là phường Nhà Mát, thị xã Bạc Liêu), mặt xoay ra biển. Lúc mới xây dựng, tượng đài được đặt sát mé biển, khi thủy triều lên nước biển tràn vào có lúc ngập cả chân đế, nhưng tới nay do sự bồi đắp của thiên nhiên, vị trí đặt tượng đài đã cách biển gần bốn ngàn mét. Tượng đài tuy giản đơn, nhưng cảnh quan rất hùng vĩ và trang nghiêm dễ gây sự chú ý và ngưỡng mộ cho mọi người, đã đáp ứng một phần lớn nhu cầu tín ngưỡng cho ngư dân ở đây, nhất là những người thường đánh bắt xa bờ. Tượng Bồ tát còn làm thêm nhiệm vụ “làm ngọn hải đăng” cho những người đi biển.
Đến năm 1995, Ban Đại diện Phật giáo thị xã Bạc Liêu được chính quyền cho phép trùng tu chân đế của tượng đài. Từ đó đến nay, đồng bào Phật tử và du khách đến chiêm bái càng lúc càng đông, để đáp ứng nhu cầu tham quan du lịch của du khách và thể hiện chủ trương về bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tỉnh nhà, năm 2004 UBND tỉnh Bạc Liêu đã phê duyệt dự án và cho phép Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu xây dựng Quán Âm Phật Đài trên diện tích 2.500.000m2 chung quanh vị trí cũ của tượng đài với nhiều hạng mục khác nhau.
Mặc dù vậy các ngày lễ người ta đến chiêm bái và tham quan thật đông đúc, nhất là vào lễ vía Quán Thế Âm trong ba ngày 19 tháng 2, 19 tháng 6, 19 tháng 9 âm lịch và trong ba ngày vía Bà 22, 23, 24 tháng 3 âm lịch hàng năm người ta đến rất đông, không những người địa phương mà người các tỉnh khác kể cả du khách và Phật tử ở một số tỉnh xa từ miền Trung, miền Bắc cũng có mặt. Quan cảnh tham quan, chiêm bái thật vô cùng náo nhiệt. Từ con đường phía trước cổng cho đến con đường dẫn vào tượng đài, người ta vô cùng đông đúc, như một dòng người tấp nập tới lui luân chuyển cả ngày đêm, nhất là về đêm số lượng người càng gia tăng nhiều hơn nữa. Du khách đến chiêm bái Quán Âm Phật Đài càng lúc càng đông nên các dịch vụ ở đây cũng rất đa đạng, từ quán hàng ăn uống, xe đưa đón, khách sạn, nhà trọ, mua bán tranh ảnh nghệ thuật, quà lưu niệm…
Đặc biệt năm 2008, có chủ trương của UBND tỉnh Bạc Liêu với sự hỗ trợ của các ban ngành địa phương đối với việc tổ chức lễ hội, nên Quán Âm Phật Đài lại càng được sự chú ý của du khách hơn. Thực hiện tinh thần này, Hòa thượng Thích Huệ Hà - Trưởng ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu đã chỉ đạo Ban Văn hóa và Ban Nghi lễ Tỉnh hội soạn thảo một chương trình lễ hội ba ngày 22, 23, 24 tháng 3 âm lịch để phục vụ đồng bào Phật tử và khách hành hương.
Du khách chắc chắn sẽ hài lòng khi đến Quán Âm Phật Đài Bạc Liêu, vừa để tham quan chiêm bái thánh tượng, thưởng thức cảnh quan tuyệt vời của một vùng trời biển bao la, vừa để tìm hiểu lễ hội Quán Âm Nam Hải một lễ hội Phật giáo nhưng mang đậm màu sắc văn hoá truyền thống dân tộc Việt Nam.
Quán Âm Phật Đài xây dựng chưa xong mà lại có kết quả khả quan đến thế, chắc rằng trong tương lai nơi đây sẽ trở thành một điểm du lịch lớn của miền Tây Nam bộ. Văn hóa tâm linh thật sự là một món ăn cần thiết trong đời sống con người, nhất là trong du lịch lại là một yếu tố quan trọng trong vấn đề phục vụ và thu hút du khách. Quán Âm Phật Đài Bạc Liêu chỉ mới ra đời trong một thời gian ngắn lại ở một tỉnh lẻ cực Nam, nhưng nếu nói về thành quả ban đầu về số lượng du khách thì cũng có thể so sánh với Phổ Đà Sơn trong giai đoạn hình thành. Phổ Đà Sơn lúc chưa phát triển thì cũng chỉ là một hòn núi vô danh trên một đảo nhỏ ở phía Nam Trung Quốc, nhưng từ khi người ta xây dựng tượng đài Quán Thế Âm thì nơi đây mau chóng chuyển mình từ một nơi hoang vu không người qua lại chẳng mấy chốc đã trở thành một trong Tứ đại danh sơn Phật tích của Trung Quốc, một điểm du lịch nổi tiếng khắp năm châu, đã góp phần với ngành du lịch đem ngoại tệ về cho quê hương, làm giàu cho đất nước. Hy vọng rằng Quán Âm Phật Đài Bạc Liêu trong tương lai sẽ thừa kế thành quả này để trở thành một Phổ Đà Sơn thứ hai – một địa danh Phật tích của miền Duyên hải – một địa chỉ du lịch tuyệt vời ở miền cuối nước Việt Nam.
V. TÍN NGƯỠNG QUÁN THẾ ÂM CỦA NGƯỜI KHMER
Tín ngưỡng về Quán Thế Âm ở Việt Nam chỉ có trong Phật giáo Đại thừa (Bắc tông), các hệ phái Nam tông không có, nhưng tại xã Hưng Hội, huyện Vĩnh Lợi tỉnh Bạc Liêu, người Khmer đã xây dựng một salatel (Niệm Phật đường theo kiến trúc của người Khmer), phía trước sân có xây dựng một thánh tượng Bồ tát Quán Thế Âm rất uy nghi, có lẽ đây là nơi duy nhất ở Nam bộ, người Khmer đã đã tôn thờ Quán Thế Âm như một vị thần bảo vệ xóm làng.
Loại tín ngưỡng này cũng gần giống như tín ngưỡng Quan Âm của người Kinh và người Hoa ở Việt Nam, chỉ khác là vào ba ngày vía Quan Âm trong năm (19/2; 19/6; 19/9 âm lịch) ở đây không tổ chức lễ, mà chỉ tập trung lễ bái vào các buổi lễ cầu an, làm phươc… mà thôi. Đứng đầu salatel là một Ban Quản trị trong đó đa số là acha (những người xuất tu) để điều hành công việc, cũng gần giống như Ban Quản trị của các đình người Kinh hay miếu của người Hoa. Bà con Khmer ở các thôn xóm đã đến lễ bái đông đúc mỗi lần lễ, vía. Có một điều rất đặc biệt là trong những người đến dâng hương cầu an cầu phúc lại có cả người Kinh và người Hoa. Tuy mỗi dân tộc đều có tín ngưỡng đặc thù, mỗi người đều có lòng tin với thước đo khác nhau, lễ vật dâng cúng của họ cũng tùy theo hoàn cảnh kinh tế gia đình và tập quán của mỗi dân tộc, nhưng họ cùng đến đây lễ bái Bồ tát như những đứa con từ các hướng khác nhau cùng về thăm mẹ hiền để cầu cho gia đình được no cơm ấm áo và làng xóm được thịnh vượng bình an.
Đối với Phật giáo Nam tông thì chỉ có đàn ông mới được xuất gia tu ở chùa, còn phụ nữ không được xuất gia làm ni cô như các phái Bắc tông, mà chỉ được học những điều Phật dạy từ những vị sư để tự mình tu tập. Trong chính điện của chùa Khmer cũng chỉ thờ duy nhất có Phật Thích Ca, không thờ hình tượng các vị Phật khác, các Bồ tát với hóa thân nữ lại càng không có. Vậy mà ở đây, từ xa nhìn vào người ta đã thấy rõ ràng là một Salatel – một kiến trúc tín ngưỡng thuần túy của người Khmer, nhưng lại có sự hiện diện của Bồ tát Quán Thế Âm qua hình dáng của một người phụ nữ. Tuy đây chỉ mới là một hình tượng đơn độc, chưa được phổ biến rộng, nhưng cũng đủ nói lên ý nghĩa cách tân tín ngưỡng thật tốt đẹp, đã nâng cao vai trò và vị trí của người Phụ nữ Khmer trong xã hội hiện nay, đồng thời qua đó đã thể hiện sự hòa nhập văn hóa của một cộng đồng dân tộc và thể hiện tình đoàn kết gắn bó của các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer ở Bạc Liêu. Thiết nghĩ một mô hình tín ngưỡng có ý nghĩa tốt đẹp như thế cần nên nhân rộng ra để phục vụ cộng đồng tích cực hơn.
VI. VĂN HỌC DÂN GIAN KHMER CÓ NGUỒN GỐC TỪ PHẬT GIÁO
Người Khmer Nam bộ thật sự đã có một kho tàng văn học dân gian rất lớn, bao gồm nhiều thể loại như truyện cổ tích (rương prêng), thần thoại (rương boran), tục ngữ (sô phia sách), bài ca (châm riêng)..., các thể loại này được chia làm hai loại lớn, là văn xuôi (peak sâmrai) và văn vần (kâm nap). Về văn xuôi cũng có hai thứ văn viết và văn nói. Nhưng thế mạnh trong văn học dân gian của người Khmer Nam bộ vẫn là văn nói, thể hiện rõ nhất trong văn nói là hai loại truyện kể Cổ tích và thần thoại. Thực ra các loại truyện kể này có nguồn gốc từ các sách chép trên lá sătra slấc rít (cọ), lá sătra (thốt nốt) nhưng được lưu hành trong dân gian bằng hình thức truyền khẩu.
Về cổ tích thì đa số mang màu sắc Phật giáo, nội dung cốt truyện thường dạy con người làm lành lánh dữ, đa số các truyện cổ tích đều nhằm nhắc nhở làm ác gặp ác, làm thiện gặp thiện, con người hiền lành dù có bị hãm hại hay bị tai bay họa gởi nhưng cuối cùng vẫn bình an, cuối cùng cái thiện luôn thắng cái ác. Các tích truyện thường nói về thân phận con người trong mọi hoàn cảnh khác nhau với những tình tiết rất sinh động, đôi khi những nhân vật trong truyện lại là những con vật quen thuộc với mọi người như thỏ, cáo, gà, khỉ, cọp, voi... cho thêm phần hấp dẫn; có một điều giống nhau là đa số các truyện cổ tích đều kết thúc bằng các hình thức thưởng thiện phạt ác và kết thúc luôn có hậu làm cho người nghe rất hài lòng. Truyện cổ tích Khmer rất phong phú về nội dung và dồi dào về số lượng với nhiều đề tài có ý nghĩa, các nghệ nhân Khmer phân ra làm nhiều loại: Chuyện xưa tích cũ, ngụ ngôn, truyện kể về thú vật và truyện cười.
Truyện ngụ ngôn được phát triển rất lớn vì Phật giáo có lối giảng đạo cho người bình dân bằng cách kể truyện có ẩn dụ để thay cho những bài giáo lý khô khan khó hiểu. Các nhà sư thường dùng những hình tượng cụ thể trong văn học thay thế cho những khái niệm trừu tượng trong triết học để dễ dàng truyền bá giáo lý Phật giáo đến mọi người, lâu dần đã thành những câu truyện kể quen thuộc trong dân gian. Các truyện nói về loài vật thì mỗi loài được nhân cách hóa và điển hình cho mỗi trường hợp trong cuộc sống khác nhau, riêng hình tượng con thỏ đã được gắn vào nhiều truyện cổ tích xa xưa và người Khmer cũng rất chú ý đến hình tượng con vật này. Một số lớn người Khmer đều nghĩ rằng thỏ là loài vật tinh khôn, đẹp về thân thể, tinh khiết về tinh thần, từng là tiền thân của đức Phật đã có lần hy sinh thân mạng để cứu người khác, người ta đã khai thác triệt để ý nghĩa hy sinh cao cả này trong các truyện kể dân gian. Ngòai ra, khỉ và voi cũng là những hình tượng thường được nhắc đến.
Trong các loại hình truyện kể dân gian có một loại cũng rất được mọi người thích thú đó là truyện cười. Người Kinh có nhân vật Trạng Quỳnh là một người đã từng dùng trí khôn của mình làm điên đảo phủ Chúa và đã từng làm cho những người ăn trên ngồi trước này phải nhiều phen thất điên bát đảo; thì ở đây trong truyện cười của người Khmer cũng có nhân vật Thnênh Cheay đã từng có nhiều thành tích làm đảo điên “luật nhà phép nước” phong kiến lỗi thời và những bọn “cao quan hậu lộc” của các thời ấy phải nhiều phen cười ra nước mắt, nhưng cũng không làm gì ông được.
Truyện thần thoại của người Khmer cũng có khối lượng rất lớn được thể hiện rõ nhất bằng cách truyền khẩu và qua các tác phẩm điêu khắc, hội họa ở chùa hoặc ở các công trình công cộng; cứ mỗi một hình tượng là có mỗi thần tích với những ý nghĩa thật sâu xa. Phổ thông nhất trong truyện thần thoại Khmer là truyện Đầu thần bốn mặt, trên đỉnh các nóc chùa Khmer đều có đặt tượng đầu của một vị thần có đến bốn mặt nhìn ra bốn bên, biểu tượng này gắn với một lễ nghi quan trọng trong ngày đầu của tết Chuôl Chnam Thmay, đó là lễ rước Maha Sângkran, lễ rước ấy có liên quan đến một câu chuyện thần thoại. Nội dung truyện thần thoại này đã nêu lên ý nghĩa sự chiến thắng của con người đối với vị thần có nhiều quyền năng và kiêu ngạo, sự chiến thắng của trí thông minh, của trí tuệ loài người đối với sức mạnh của thiên nhiên và các uy lực huyền bí. Trong các ngôi chùa Khmer, người ta còn thấy biểu tượng Reahu với chiếc đầu to mồm rộng, răng nhe, mắt trợn, hai tay nắm mặt trời đưa vào mồm chực nuốt. Biểu tượng này cũng có nguồn gốc từ một truyện thần thoại rất quen thuộc trong dân gian. Truyện này phản ánh sự nhận thức của con người thời cổ về các hiện tượng tự nhiên như giông bão, gió trốt, thủy triều lên xuống, nhật thực, nguyệt thực…, tất cả đều do một năng lực huyền bí gây nên. Ngoài ra, còn rất nhiều truyện thần thoại khác, mỗi truyện đều mang một ý nghĩa đặc biệt và phản ảnh một đôi phần về các sinh hoạt và tín ngưỡng cổ xưa.
Trong văn học dân gian Khmer, loại văn vần cũng không kém phần phong phú như các loại văn xuôi, có thể nói còn hấp dẫn hơn bởi tính trữ tình của nó. Gọi chung là thơ ca dân gian nhưng trong đó bao gồm rất nhiều loại của nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau, có cả ca hát (châm riêng), hò đối đáp (a dăy), tục ngữ ca dao (sphoeaset), dân ca (chòm riêng pro chia prây) và các bài thơ ngụ ngôn, trào phúng, châm biếm…
Người Khmer Nam bộ ngoài những sinh hoạt có tính chất tôn giáo, tín ngưỡng còn có những sinh hoạt về văn học nghệ thuật rất đa dạng và phong phú, nhất là văn học dân gian đã có một kho tàng lớn ở Nam bộ, ở đây có rất nhiều truyện cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn, truyện cười, ca dao, tục ngữ, nói lái, câu đố… nhưng chỉ có một số được ghi chép trên lá thốt nốt, còn phần lớn là do truyền miệng dân gian. Văn học dân gian của người Khmer cũng như văn học dân gian của các dân tộc anh em khác trong nhiều năm qua đã thật sự góp phần làm phong phú và khởi sắc thêm kho tàng văn học dân gian Nam bộ. Thiết tưởng nên có kế hoạch bảo tồn những tác phẩm đã được các nghệ nhân năm xưa viết trên lá cọ, lá thốt nốt hiện đang được lưu giữ ở các chùa của người Khmer, vì có một số đã và đang bị hư mục do đã trải qua một thời gian quá lâu và thiếu điều kiện bảo quản; song song bên cạnh đó những tác phẩm văn học dân gian như những truyện thần thoại, cổ tích, ngụ ngôn, dân ca, hò vè, bài hát… đã và đang đựơc người Khmer lưu giữ bằng cách truyền miệng cho nhau từ đời này sang đời khác rất dễ bị sai lệch nội dung ban đầu, cũng nên tiến hành dịch thuật và phổ biến rộng rãi để phục vụ những yêu cầu cần thiết và để bảo tồn những sản phẩm văn hoá truyền thống ở các địa phương.
Ngoài những đặc điểm văn hóa nêu trên, Phật giáo Bạc Liêu còn nhiều đặc điểm khác như Phật giáo hóa trong tín ngưỡng dân gian của người Kinh, người Hoa; Sự hội tụ văn hóa Pháp, Việt, Hoa trong kiến trúc chùa Giác Hoa; Đặc điểm kiến trúc hình chữ quốc trong các đền, miếu, chùa người Hoa; Nghệ thuật tạc tượng Phật bằng gỗ ở chùa Vĩnh Phước An… Mỗi một đặc điểm văn hóa ở đây đều là những đề tài nghiên cứu vô cùng phong phú.
KẾT LUẬN
Bất cứ sự hiện diện của một nền văn hóa nào cũng đều phải tích hợp nhiều yếu tố như thời gian, dân trí, nhu cầu xã hội… Văn hóa Phật giáo Bạc Liêu đã có mặt từ những ngày đầu khai mở đất và song song phát triển cùng với sự phát triển của dân tộc theo suốt chiều dài lịch sử tỉnh nhà đã hội tụ nhiều yếu tố, vì vậy văn hóa Phật giáo Bạc Liêu mới có những điểm đặc thù như đã nêu trên. Hiện nay Nhà nước đã có chủ trương bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống, bởi thế mỗi một loại hình văn hóa dù là văn hóa vật thể hay phi vật thể cũng nên có kế hoạch phát huy để góp phần xây dựng chung cho văn hóa dân tộc mỗi ngày thêm tốt đẹp hơn.
Trong phần kết của bài tham luận, ngoài những điểm vừa nêu, chúng tôi mạn phép trình bày thêm một vài vấn đề để cùng nhau bàn bạc:
1. Về kiến trúc chùa Bắc tông ở Việt Nam hiện nay. Kiến trúc thật đa dạng, gần như mỗi ngôi chùa là một kiểu khác nhau. Thiết tưởng chúng ta nên có một kiểu mẩu thống nhất khi xây dựng chùa như một số cơ sở thờ tự của các tôn giáo bạn. Chỉ nên khác nhau về độ lớn nhỏ và nên giống nhau về kiểu dáng.
2. Về đọc, tụng, dịch kinh nên thống nhất về phát âm. Thí dụ câu “Nam mô A Di Đà Phật” có người đọc “Nam mô A Mi Đà Phật” thậm chí người ta chỉ đọc “A Mi Đà Phật”, hay là “Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” có người đọc “Nam mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni”… Đề nghị Giáo hội nên có sự chỉ đạo thống nhất về vấn đề này.
Trên đây là ý kiến đóng góp của Tỉnh hội Phật giáo Bạc Liêu, một tỉnh xa xôi gần cuối miền đất nước, ngưỡng mong sẽ góp một phần nhỏ cho cuộc Hội thảo thành công tốt đẹp.
NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA CHÙA TAM BẢO
VỚI VIỆC PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC
Đại Đức Thích Thiện Chí
UV. Thường trực, Phó VP BTS THPG Kiên Giang
Trưởng Ban Quản Trị Chùa Tam Bảo Tp. Rạch Giá
Chùa Tam Bảo đã được Bộ Văn Hóa công nhận là một “Di Tích Lịch Sử Văn Hóa Cách Mạng”, là một ngôi chùa cổ nổi tiếng của đồng bào Phật tử thành phố Rạch Giá, chùa có một quá trình lịch sử hơn hai thế kỷ, được hình thành từ những năm cuối thế kỷ XVIII, trong thời Nguyễn Ánh chạy trốn nghĩa quân Tây Sơn. Trải qua bao bước thăm trầm thịnh suy, chùa Tam Bảo đã gắn bó với mảnh đất Rạch Giá này và đã góp phần vào công cuộc đánh đuổi giặc ngoại xâm giải phóng tỉnh nhà.
Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, chùa Tam Bảo đã đóng góp một phần công sức của mình vào các phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân trong tỉnh. Trước khi có Đảng, nhân dân Rạch Giá đã phát huy truyền thống yêu nước và khí phách anh hùng vùng lên làm cuộc đấu tranh chống lại sự áp bức bóc lột của thực dân Pháp. Nhưng tiếc thay do chưa có được sự lãnh đạo của Đảng, thiếu đường lối đúng đắn cho nên các phong trào bị đàn áp và dập tắt.
Từ những năm hai mươi của thế kỷ trước, nước ta đã xuất hiện luồng tư tưởng mới chủ nghĩa Mác – Lênin do Nguyễn Ái Quốc truyền bá, không bao lâu tư tưởng đó lan rộng khắp nơi trong nước dẫn đến sự ra đời của Đảng. Tại vùng đất xa xôi hẻo lánh này, chùa Tam Bảo có vị trí là cơ sở bí mật để vận động phong trào yêu nước, Hòa Thượng Thích Trí Thiền (thế danh Nguyễn Văn Đồng) đã biến ngôi chùa Tam Bảo nơi Ngài đang trụ trì thành một cơ sở liên lạc, gặp gỡ, đi lại của các chiến sĩ cách mạng. Bên cạnh đó, những Hòa thượng trong chùa Tam Bảo đều là những con người yêu quê hương đất nước nồng nàn, các Ngài đã vận dụng sáng tạo các nguyên lý của Đức Phật vào một đất nước có giặc ngoại xâm. Dù trong giới luật của Phật là không được sát sanh, nhưng trong hoàn cảnh quê hương đất nước như vậy thì việc sát sanh để cứu muôn người, đánh đuổi quân xâm lược để cứu dân tộc cứu quê hương đất nước đó là Từ bi. Lịch sử mãi mãi ghi nhận những tấm gương cao cả của những nhà sư đã hy sinh cả cuộc đời mình cho quê hương cho dân tộc. Hòa thượng Thích Thiện Chiếu đã thực hiện nhiều hoạt động Phật giáo nhằm làm sống lại Phật giáo chánh tín, mang âm hưởng dân tộc và hơn hết là phát huy tinh thần yêu nước cho Tăng sĩ, Phật tử trong thời kỳ này. Hòa thượng Thích Trí Thiền đã cùng với các nhà sư khác tại chùa Tam Bảo ra sức phát huy tinh thần độc lập dân tộc, thuyết giảng về lòng tin và quyền tự chủ, đem đạo vào đời, tình yêu quê hương, tình yêu dân tộc. Bởi vì một khi đạo vào đời sẽ là một yếu tố thắt chặt tinh thần yêu nước, ý thức độc lập dân tộc, tạo nên khí phách hiên ngang được thể hiện rõ qua hình ảnh của Hòa thượng Thích Thiện Ân, tên tuổi của Ngài đã đi vào trang sử của tỉnh Kiên Giang, một con người Việt Nam anh hùng bất khuất trước mọi sự tàn bạo của kẻ thù. Hòa thượng và các bạn đồng chí của mình hoạt động cách mạng dưới lớp áo của Hội Phật Học Kiêm Tế, xuất bản tạp chí Tiến Hóa, ngoài ra các Ngài còn chứng minh đường lối nhập thế của mình bằng cách tổ chức phát thuốc, chuẩn tế, nuôi dưỡng cô nhi… Đó là những chứng tích về công đức lớn lao của các vị Hòa thượng chân tu có đạo hạnh cao.
Di tích lịch sử văn hóa cách mạng chùa Tam bảo còn là nơi ghi dấu chiến tích anh hùng của thời đại chống thực dân Pháp bằng việc chế tạo và tàn trữ vũ khí, nơi in truyền đơn là đầu mối giao liên giữa Xứ ủy Nam Kỳ với Tỉnh ủy Rạch Giá. Sự hy sinh cao đẹp của thiền sư Thích Thiện Ân và các nhà sư yêu nước của chùa Tam Bảo đã góp phần viết lên những trang sử vàng cho Phật giáo Kiên Giang.
Cuối những năm 1940 và đầu năm 1941, chùa Tam Bảo được dùng làm trạm giao liên và là nơi chôn dấu vũ khí của Liên Tỉnh Ủy miền Tây và tỉnh Rạch Giá. Tháng 6 năm 1941, cơ sở cách mạng này bị lộ. Đêm 16 tháng 6 năm 1941 lính mật thám ập vào chùa, Hòa Thượng Thích Trí Thiền bị đày biệt xứ ra Côn Đảo 5 năm. Do không chịu nổi cảnh hà khắc khốn khổ, trong lần đấu tranh tuyệt thực, Hòa thượng đã hy sinh tại Côn Đảo vào năm 1943. Sự kiện trên cho thấy, chùa Tam Bảo có một phần đóng góp làm dầy thêm trang sử đất nước. Qua thời gian đó, chùa bị đóng cửa. Cho đến sau Cách mạng tháng tám thành công, chùa bắt đầu một giai đoạn lịch sử mới, chùa được bảo quản qua các đời trụ trì, các Ngài tiếp tục trùng tu và giữ gìn. Năm 1955 sinh hoạt của chùa Tam Bảo được khởi sắc, do nơi đây là trụ sở của Hội Phật Học Nam Việt. Nhưng đến giai đoạn 1959 – 1963, do ảnh hưởng chích sách kỳ thị tôn giáo của Ngô Đình Diệm, nhiều phong trào đấu tranh chống lại chế độ độc tài Mỹ - Diệm của Phật giáo diễn ra sôi nổi nhất là ở Sài Gòn. Hòa với phong trào chung, nhiều Tăng Ni, Phật tử chùa Tam Bảo cũng góp phần vào các cuộc đấu tranh đó bằng nhiều hình thức ứng phó linh hoạt. Chùa Tam Bảo là nơi che chở cho cán bộ, các Phật tử góp phần trong việc chuyển giao các truyền đơn và tin tức hàng tuần đến tay quần chúng dù bị chánh quyền Mỹ ngụy kiểm soát nghiêm ngặt.
Khi phong trào đấu tranh của toàn dân cũng như của Tăng Ni, Phật tử càng lên cao, đồng bào phật tử Kiên Giang đứng lên lật đổ ách thống trị của Mỹ ngụy. Thể hiện tinh thần yêu nước, Hòa thượng Thích Bổn Châu đã bí mật tuyên truyền vận động đường lối cách mạng trong tín đồ Phật tử, bằng hết khả năng của mình Hòa thượng đã làm cho tuyệt đại đa số Phật tử tin tưởng vào chính quyền cách mạng. Hòa thượng còn đi đầu trong cuộc thống nhất Phật giáo. Với uy tín của Hòa thượng, chùa Tam Bảo đã trở thành Văn phòng Ban Trị sự Tỉnh hội phật giáo Kiên Giang.
Trong quá khứ, chùa Tam Bảo đã đóng góp cho lịch sử quê hương qua những hoạt động cách mạng của các nhà sư yêu nước. Khi đất nước hoàn toàn giải phóng, ngày vui của toàn dân tộc nói chung tỉnh Kiên Giang nói riêng, cũng là ngày chùa Tam Bảo tiếp tục một giai đoạn lịch sử mới. Vào những năm đầu giải phóng, chùa Tam Bảo vẫn luôn đi đầu trong các Phật sự tại địa phương, Hòa thượng Thích Bổn Châu đi đầu vận động xây dựng lò hỏa táng đầu tiên của tỉnh Kiên Giang, song chùa vẫn xem việc cứu đời cứu người là hàng đầu, bởi chiến tranh đã qua đi để lại một hậu quả nặng nề đè nặng lên mảnh đất này. Xót xa trước cảnh đói nghèo bệnh tật của người dân, Hòa thượng Thích Bổn Châu đã phát huy truyền thống “lá lành đùm lá rách”, Tuệ tĩnh đường đầu tiên được thành lập tại chùa Tam Bảo để xem mạch hốt thuốc miễn phí cho dân nghèo, đến nay với bề dầy ba mươi năm trưởng thành, Tuệ tĩnh đường chùa Tam Bảo vẫn vững chắc trong hoạt động phục vụ sức khỏe cho dân lao động nghèo. Song song đó chùa vẫn tích cực trong công tác từ thiện xã hội như cứu trợ đồng bào lũ lụt, chăm sóc và vấn an những gia đình có công với cách mạng, bà mẹ Việt Nam anh hùng… những việc làm đó đã góp phần vào việc xây dựng một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Ngày 28 tháng 3 năm 1997, Tăng Ni và Phật tử trong toàn tỉnh vinh hạnh đón tiếp bằng Tổ Quốc ghi công do Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam truy tặng hai vị sư liệt sĩ: Hòa thượng Thích Trí Thiền và Hòa thượng Thích Thiện Ân, những người đã mở đầu cho truyền thống tốt đạo đẹp đời của Phật giáo Kiên Giang.
Ngày nay, trong thời đại văn minh tiến bộ, sự giao lưu với nước ngoài làm không ít vấn đề tiêu cực phát sinh, nhưng với chức năng giáo dục của Phật giáo nói chung và chùa Tam Bảo nói riêng, qua những việc làm cụ thể sẽ có tác dụng rất lớn góp phần hạn chế bớt tiêu cực nẩy sinh trong xã hội đồng thời thúc đẩy tiến bộ xã hội cũng như giữ gìn đạo đức phẩm giá con người, mang lại nền độc lập phồn vinh cho quê hương đất nước. Từ đây di tích lịch sử Văn hóa Cách mạng chùa Tam Bảo sẽ tiếp tục phát huy vai trò của mình trong lòng xã hội mới. Tăng tín đồ Phật giáo Kiên Giang càng thêm tự hào vì có một ngôi chùa lịch sử đã góp phần vinh quang cho tỉnh nhà. Chính tại nơi đây các vị sư và đồng bào Phật tử Rạch giá đang noi gương người đi trước nối tiếp con đường cách mạng trong giai đoạn lịch sử mới, cùng toàn dân đi theo con đường đổi mới của Đảng và Nhà nước, nhằm từng bước xóa đói giảm nghèo, tiến tới thực hiện mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh tiến bộ”.
Cuối cùng chúng con xin trân thành tri ân quý chư Tôn đức đã lắng nghe, kính chúc chư Tôn đức pháp thể khinh an, Phật sự viên thành và Quý Đại biểu được nhiều sức khỏe.
Chúc Hội thảo thành công tốt đẹp.
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Những thuận lợi và thách thức
Đối với Ngành Hoằng Pháp trong thời hội nhập
Ban Hoằng Pháp TW GHPGVN
Nói đến những thuận lợi và thách thức đối với Ngành Hoằng Pháp trong thời hội nhập là chúng ta nói đến những vấn đề trọng yếu, có liên quan đến các hoạt động của Ban Hoằng Pháp Trung ương GHPGVN, cũng như sự phát triển chung của các Ban, ngành, viện, trong GHPGVN. Chúng tôi nghĩ rằng, Hoằng pháp là một trong những Ngành mũi nhọn rất quan trọng trong các hoạt động phát triển của GHPGVN. Do vậy, trong phạm vi bài tham luận này, bên cạnh những thuận lợi cơ bản của GHPGVN đang có được, chúng tôi chỉ nói đến những thuận lợi và thách thức đối với công tác Hoằng pháp của GHPGVN.
Ở trong bất cứ thời đại nào thì những thuận lợi hay thách thức trong công tác tổ chức, lãnh đạo, điều hành nó cũng luôn luôn hiện diện. Nhưng ở đây, chúng tôi chỉ bàn đến những thuận lợi và thách thức của Ngành Hoằng pháp trong thời hội nhập và phát triển mà thôi.
1. Những thuận lợi đối với Ngành Hoằng Pháp:
Khi nói về những thuận lợi mà Phật giáo nước nhà đang có được trong hoàn cảnh đất nước phát triển như hiện nay. Nếu quan sát tình hình thế giới, chúng ta sẽ nhận ra là chúng ta đang có quá nhiều cơ hội may mắn và thuận lợi để nâng cao chất lượng tu học và làm tốt hơn nữa vai trò Hoằng pháp độ sanh của mình.
Nhìn lại lịch sử, nếu nói nhà Lý là khởi đầu của sự phát triển Phật giáo Việt Nam, nhà Trần là sự thống nhất Phật giáo và là thời kỳ hưng thịnh tuyệt vời nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, thì thời đại Hồ Chí Minh hiện nay chính là thời kỳ Phật giáo có nhiều điều kiện hơn để tu hành và đóng góp cho đất nước. Chúng ta sẽ dễ dàng nhìn thấy sự phát triển lớn mạnh của Phật giáo Việt Nam cũng như vai trò và sự thể hiện trong các lãnh vực hoạt động xã hội của Phật giáo đối với đất nước. Từ công tác Hoằng pháp, giáo dục, từ thiện xã hội, hướng dẫn Phật tử tu học đúng chánh pháp đến việc xây dựng chùa cảnh… phải nói đó là những đóng góp tích cực nhất của Phật giáo trong suốt 30 năm qua.
Cách đây đúng 30 năm, nhờ sự thống nhất của đất nước, nhờ sự quan tâm của Nhà nước, chư Tôn đức lãnh đạo các tổ chức Giáo hội, hệ phái Phật giáo cả nước, đã đứng ra vận động, tổ chức Hội nghị Đại biểu Thống nhất Phật giáo Việt Nam, thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, khởi đầu cho một thời đại mới. Kể từ đó Phật giáo Việt Nam mang diện mạo mới và trọng trách mới: Đồng hành cùng dân tộc với phương châm và định hướng “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa Xã hội”. Đây là cơ hội thuận lợi để Phật giáo Việt Nam khẳng định vai trò đồng hành cùng dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi cho Phật giáo Việt Nam đóng góp nhiều hơn nữa cho đất nước và dân tộc.
Trong hoàn cảnh đất nước mở cửa hội nhập, bên cạnh những thuận lợi về mặt vật chất, với các phương tiện hiện hữu, chúng ta còn có nhiều cơ hội quý báu khác để nâng cao chất lượng học Phật và phát triển Phật giáo nước nhà. Một trong những cơ hội quý báu mà Phật giáo thời hiện đại có được, đó chính là sự gắn kết giữa các tổ chức Phật giáo các nước trên thế giới. Những sự kiện Phật giáo quốc tế và khu vực thường xuyên tổ chức tại nước ta, các đoàn Phật giáo nước ta cũng thường xuyên giao lưu học hỏi kinh nghiệm với các tổ chức Phật giáo trên thế giới. Điều này tạo nên sự tương thông hấp thụ lẫn nhau giữa các nền văn hóa một cách có chắt lọc, có định hướng. Nhờ đó mà công tác Hoằng pháp được cải thiện, bồi dưỡng, nâng cao, mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác Hoằng pháp độ sanh trong thời đại hội nhập.
2. Những thuận lợi đối với Tăng Ni Phật tử Việt Nam:
Chúng ta đang sống trong thế kỷ 21, được xem là thế kỷ văn minh, khoa học. Một thế kỷ mà cả thế giới đang thu hẹp khoảng cách giữa các quốc gia và đang cố gắng để hoàn thiện mục tiêu toàn cầu hóa.
Thời nay, đời sống vật chất của Tăng Ni Phật tử ngày càng được nâng cao, phương tiện tu học với nguồn kinh sách dồi dào, văn hóa phẩm Phật giáo từ báo chí đến băng đĩa quý thầy thuyết giảng về giáo lý rất đa dạng phong phú. Các đạo tràng Hoằng pháp được hình thành khắp các nơi. Các cơ sở tu học được xây dựng tầm cở, không chỉ khang trang kiên cố mà còn rất thẩm mỹ. Tăng Ni thời nay có rất nhiều thuận lợi trong việc tu tập, muốn học thì có trường lớp, muốn nhập thất tu hành thì có nơi chốn để tu trì, muốn ra nước ngoài học tập hay giảng kinh thuyết pháp thì cũng có thể thực hiện. Khi cần một tư liệu để tham khảo, chỉ cần vài giây nối mạng là chúng ta có ngay những thông tin cần thiết, muốn liên lạc với bất kỳ ai chỉ cần bấm số điện thoại là xong. Nói như vậy để chúng ta thấy rằng, đối với đời sống tu học của Tăng Ni Phật tử thời đại ngày nay, chúng ta có quá nhiều thuận lợi để trợ duyên cho sự nhận thức, sinh hoạt và cống hiến cho công tác Hoằng pháp, điều mà vài thế kỷ trước đây chúng ta có vọng tưởng cũng chẳng dám nghĩ đến.
Trong thời đại ngày nay, chúng ta cũng rất thuận lợi trong việc xây dựng giảng đường, chùa chiền tịnh viện, xây dựng niệm Phật đường, thành lập thiền đường, để phục vụ nhu cầu Hoằng pháp và chuyên tu của quần chúng Phật tử. Cũng trên phương diện xây dựng kiến tạo cơ sở tu học, chúng ta có thể kết hợp việc kiến trúc những cảnh quan vừa đậm đà dấu ấn nghệ thuật, vừa lắng sâu thiền vị, bởi thông qua những “tịnh tâm viên”, những “già lam”, những “rừng thiền”, những “trung tâm Hoằng pháp”, “trung tâm văn hóa Phật giáo” đã tạo sức thu hút mạnh mẽ khiến quần chúng đến với đạo Phật một cách tự nhiên và tự nguyện. Cảnh trí thiền môn nghiêm tịnh, thanh thoát lắng sâu, sẽ là những bài pháp vô ngôn nhưng hữu hiệu đối với những tâm hồn nhạy cảm, sẽ hấp dẫn và níu chân họ trở về với cội nguồn nguyên sơ, mà những nơi khác ắt sẽ khó gợi lên trong tâm hồn họ những giây phút nội tĩnh lắng sâu như vậy. Đây là những điều kiện thuận lợi để giúp cho quần chúng đến với đạo Phật.
3. Những thách thức đối với Ngành Hoằng pháp trong thời hội nhập:
Nói về những khó khăn mà Phật giáo phải chung sống thì thời đại nào cũng có những khó khăn nhất định. Tuy nhiên trong bối cảnh đời sống thời hội nhập thì những khó khăn mà Phật giáo phải đối mặt mang tính thách thức và có phần gây áp lực nhiều hơn. Tuy nhiên, khó khăn cơ bản của Phật giáo nói chung, của ngành Hoằng pháp nói riêng, trước hết phải nói là yếu tố chủ quan xuất phát từ sự giới hạn trong công phu tu tập của hàng tứ chúng. Những khó khăn như vậy chỉ có thể khắc phục bởi ý thức giác ngộ nơi mỗi người và sự nỗ lực hành trì nơi mỗi bản thân.
Xuất phát từ tinh thần nhập thế, tùy thuận và thích nghi của Phật giáo, thì việc hòa nhập vào đời sống trong xu thế đất nước mở cửa hội nhập và xã hội đang phát triển là điều vô cùng ý nghĩa. Chúng ta mừng cho đất nước thời hội nhập toàn cầu để chẳng những nhân dân ta vừa tiếp nhận mà đồng thời còn chia sẻ những tinh ba của đất trời bốn phương. Nhưng đồng thời cũng phát sinh nhiều vấn nạn, thách thức từ mặt trái của nền kinh tế thị trường. Từ đó chúng ta dễ dàng nhận thấy ngay rằng, thách thức lớn nhất đối với Phật giáo đồ trong thời hội nhập, chính là sự cám dỗ đáng sợ của thế giới vật chất vô cùng dồi dào sung mãn. Trong khi đó khả năng khống chế tham vọng nơi tự thân người tu hành trong thời mạt pháp thì lại có giới hạn. Trước hoàn cảnh ấy, nếu Tăng Ni nào chưa thật sự nỗ lực tu hành, thì đạo đức phẩm hạnh của một bậc xuất gia chân chánh cũng khó mà toàn vẹn. Đối với quần chúng thì đời sống vật chất phát triển thời hội nhập cũng sẽ là một thách thức lớn trên bước đường học Phật của người Phật tử còn sơ cơ.
Một thách thức lớn mà Phật giáo nói chung và ngành Hoằng pháp nói riêng phải đối mặt, đó là chúng ta đang sống trong thế kỷ 21, thế kỷ của văn minh và khoa học. Trong xã hội thời hiện đại, khi mà trình độ dân trí đã được nâng cao, khả năng cảm nhận và nguồn tri thức của quần chúng rất dồi dào phong phú. Do vậy nhu cầu thính pháp của quần chúng Phật tử hiện nay ở một tầng bậc rất cao, họ không đơn thuần là đến để nghe những bài giảng vốn đã đọc qua hay đã thông hiểu, mà còn cần được chia sẻ kinh nghiệm hành trì cũng như những pháp ngữ đậm tính khai mở nguồn tuệ giác. Cho nên họ rất cần những nhà Hoằng pháp thực tu, thực hành, mỗi lời nói ra đều là pháp ngữ, chứ không chỉ có quan tâm đến kỹ năng, nghệ thuật diễn giảng là có thể thu nhiếp được họ. Trong khi đó, các nhà Hoằng pháp hiện nay phần lớn chỉ chú trọng đến công tác truyền bá kiến thức giáo lý một cách chung chung, nặng về hình thức, chứ chưa quan tâm đến nhu cầu thực tiễn của thính chúng. Một điều đáng quan tâm nữa là đội ngũ Giảng sư làm công tác Hoằng pháp hiện nay rất mỏng, căn bản tu hành còn nhiều giới hạn, chưa học đúng trường đúng lớp của ngành đào tạo. Việc phân bổ nhân sự Hoằng pháp cũng chưa hợp lý, hay đúng hơn chưa đào tạo đúng mức để ngành Hoằng pháp có đủ Giảng sư thuyết giảng và hướng dẫn Phật tử tu học.
Chúng ta đang sống trong thời đại mà khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão. Sự phát triển này đã làm thay đổi cuộc sống, tầm nhìn và sinh hoạt của xã hội trong đó có sinh hoạt của giới Phật giao chúng ta. Điều đáng nói, sự thay đổi trong sinh hoạt của một bộ phận Tăng sĩ thời nay, là mang tính bị cuốn theo và nặng về tính đáp ứng, chứ hiếm có trường hợp thích nghi nhằm phục vụ cho lý tưởng và Hoằng pháp độ sanh. Trong khi đó, Phật giáo được xem là một tôn giáo có khả năng thích ứng, khế lý, khế cơ, khế thời với mọi đổi thay của hoàn cảnh. Thế nhưng trên thực tế thì khả năng thay đổi để thích nghi hòa nhập hầu như chưa được thể hiện một cách thỏa đáng, điều này khiến cho Phật giáo luôn bị hạn chế. Từ cơ cấu tổ chức đến nhân sự, từ quan niệm, khuynh hướng đến cách thức điều hành, dường như chưa thể bắt nhịp với sự phát triển nhảy vọt của thời đại. Phải chăng điều đó đặt ra cho Ngành Hoằng Pháp một thách thức mới cả về việc nâng cao năng lực cho Ngành Hoằng pháp lẫn về mặt tổ chức, thuyết giảng, điều hành chuyên ngành hoạt động của mình ngày càng đởi mới hơn.
Trong thời đại toàn cầu hóa, trước sự du nhập ồ ạt của các nền văn hóa, vàng thau lẫn lộn, Phật giáo luôn được xem là yếu tố quan trọng cấu thành bản sắc văn hóa dân tộc. Do vậy Phật giáo không thể đánh mất vai trò chủ động của mình, bởi bản sắc văn hóa dân tộc chính là nền tảng căn bản của nền văn hóa độc lập dân tộc. Đồng thời cũng là nét đặc thù của nền văn hóa Phật giáo được phổ cập trong đời sống nhân dân.
Nhân đây chúng ta cũng nên nhận chân đến một vấn đề không kém phần quan trọng. Đó là, từ nền tảng truyền thống thờ phượng ông bà tổ tiên có tự ngàn xưa, huân tập nền văn hóa tín ngưỡng của dân tộc, thêm vào đó là ảnh hưởng sâu đậm tinh thần từ bi hỷ xả của đạo Phật, nên vùng nông thôn nước ta từ bao đời nay vốn là địa bàn của Phật giáo, luôn là thành trì vững chắc để ngăn chặn các nền văn hóa và tín ngưỡng ngoại lai. Thế nhưng trước khuynh hướng sống thực dụng và niềm khao khát thụ hưởng thành quả vật chất thời hiện đại của một bộ phận công chúng. Đồng thời với sự du nhập ồ ạt của nền văn hóa và tín ngưỡng ngoại lai, kết quả đã biến nhiều vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi tại nước ta trở thành những mảnh đất màu mỡ cho các loại hình tín ngưỡng ngoại lai, mất gốc. Hơn nữa, có một điều mà chúng ta không thể thờ ơ, đó là lớp trẻ ngày nay rất dễ ảnh hưởng và bị tiêm nhiễm những tiêu cực phát sinh từ mặt trái của nền kinh tế thị trường, thiên về lối sống thực dụng, nhất là ảnh hưởng xấu bởi thông tin đa chiều trên mạng, những sản phẩm độc hại từ sách báo cũng như từ mạng internet, đã dẫn đến sự xuống cấp, băng hoại đạo đức và tha hóa về đời sống tâm linh. Điều này cũng đã tác động một phần lớn trong một bộ phận thanh thiếu niên Phật tử và một số Tăng Ni trẻ còn sơ cơ, chưa chịu rèn luyện tu dưỡng, hoặc một vài bộ phận thanh thiếu niên không được quan tâm định hướng đúng mức đối với truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Những vấn đề trên đây quả thật là thách thức mà Ban Hoằng Pháp Trung ương GHPGVN, một bộ phận truyền trao chánh pháp, hướng dẫn tinh thần, định hình cho nếp sống lành mạnh của Tăng Ni và Phật tử trẻ của Phật giáo Việt Nam trong thời hội nhập không thể không quan tâm.
Một trong những thách thức đối với Ngành Hoằng pháp trong thời hội nhập, đó là các nhà Hoằng pháp hiện nay, đa số chỉ xem công tác Hoằng pháp lợi sinh đơn thuần là công việc truyền trao kiến thức từ giáo lý, chứ chưa thật sự xem Hoằng pháp là nhịp đập của con tim thao thức trăn trở trước nỗi đau nhân thế. Điều này vô tình đồng hóa công việc Hoằng pháp với một công việc hành chánh nào đó. Nghĩa là đến giờ thì vào giảng pháp, hết giờ thì ra về, miễn sao hoàn thành một thời thuyết giảng là được. Hoặc giả có những vị chưa được đào tạo chuyên ngành Hoằng pháp nên đôi lúc xem Hoằng pháp như là một cơ hội để trình bày quan điểm, kiến giải, phô trương sự hiểu biết. Đồng thời cũng có vị xem việc thuyết pháp là cơ hội để tiếp cận Phật tử nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt sẵn có của mình.
Chính vì vậy mà tính tác động, tính lay thức, tính chuyển hóa tâm thức hoàn toàn không còn hiện diện trong suốt quá trình Hoằng pháp của mình. Một khi đã như vậy, thì những gì mà người học Phật thu thập được trong thời thính pháp, cũng nhanh chóng theo gió bay đi hoặc đôi lúc bị phản ngược, thật chẳng thiết thực gì đối với những tâm hồn khát khao tìm cầu chân lý, để chuyển hóa tâm thức trong đời sống tại gia. Đó cũng là điều đáng tiếc đang diễn ra trong một số thời giảng chưa đáp ứng được yêu cầu của quần chúng Phật tử mong muốn tìm cầu học hỏi giáo lý đạo Phật để tu tập. Cho nên, phải có con người Hoằng pháp chân chính, chuyên nghiệp, có tổ chức có đào tạo chính quy, đúng trường đúng lớp phải lấy Sự nghiệp Hoằng pháp lợi sanh làm sự nghiệp sống còn thì công tác Hoằng pháp mới xứng tầm mong đợi của Tăng ni và Phật tử Việt Nam.
Để nhiệm vụ Hoằng pháp được phát triển ở tầm cao mới trong thời hội nhập. Ngành Hoằng pháp kính đề nghị Giáo hội nên quan tâm và tạo nhiều thuận duyên hơn cho ngành Hoằng pháp. Nhất là cần có chủ trương chỉ đạo, vận động, quan tâm hỗ trợ hơn nữa về cơ sở mặt bằng, về công tác đào tạo, về tiêu chí Hoằng pháp để Ban Hoằng Pháp Trung ương và các Tỉnh Thành có điều kiện tổ chức đào tạo, hướng dẫn Tăng ni Phật tử tu tập chuyên ngành đúng với chánh pháp, phù hợp với đường lối chủ trương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong thời hội nhập và phát triển.
Trong khuôn khổ giới hạn của tham luận này, chúng tôi chỉ có thể nêu lên một số mặt thuận lợi cũng như thách thức đối với Ngành Hoằng Pháp trong thời hội nhập. Thiết nghĩ, nếu người tu theo hạnh Phật, có chánh nhân, chánh kiến, lấy đạo hạnh làm nền tảng, lấy giới luật làm khuôn phép, lấy nhân quả làm nguyên tắc tư duy, thao thức trước sự thịnh suy, trăn trở cùng vận mệnh dân tộc, tâm nguyện Hoằng pháp lợi sanh, thì đó mới đích thực là những nhân tố làm cho Phật pháp hưng thịnh. Nếu toàn thể Tăng ni và Phật tử Việt Nam đồng lòng quyết tâm tạo dựng ngôi nhà Hoằng pháp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, bằng công hạnh tu tập, hưởng ứng tham gia các khóa tu, tập huấn Hoằng pháp viên, thực hiện xuyên suốt tâm nguyện của người con Phật chân chính, thì tự nhiên diện mạo Phật Giáo Việt Nam sẽ khởi sắc, ngày càng vươn lên tầm cao mới, đồng thời những thách thức và khó khăn đối với đạo pháp, đối với sự nghiệp Hoằng pháp cũng nhân đây mà chuyển hóa thành những cơ hội và điều kiện thuận lợi.
Kính chúc hội thảo thành công tốt đẹp.
Đạo vàng tỏa hương
*Kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam
(7-11-1981 – 7-11-2011)
1.
Phật về đất Ấn nở hoa
Hai ngàn năm (*) ngát hương tòa hồng ân
Sáu trăm năm(*)… Tổ nối vần
Ba mươi lăm năm (*) độ thế nhân an bình.
2.
Phật về đất Việt hữu tình
Hai ngàn năm đẹp tâm linh ta bà
Giao Châu - Giao Chỉ… ma ha
Tâm hiền, tâm hiếu chan hòa non sông.
3.
Phật về thơm ngát hương lòng
“Hồn thiêng sông núi” Lạc Hồng thiêng liêng
Giang sơn quê mẹ Rồng Tiên
Tam giáo cộng hưởng đồng nguyên chung nguồn.
4.
Phật về thêm sắc thêm hương
Đạo đức nhân nghĩa Hùng Vương bao đời
Long Quân - Âu Cơ… ứng thời
Tinh hoa quốc thể sáng ngời nhân văn.
5.
Phật về rạng rỡ ngàn trăng
Chiếu soi tam giới vĩnh hằng thiền ca
Từ bi - hỷ xả đơm hoa
Nhẫn nhục - trí huệ phúc nhà tổ tiên.
6.
Phật về giải thoát ưu phiền
Nuôi dưỡng thiện nghiệp đức hiền nhân luân
“Thương người như thể thương thân”
Đồng bào dân tộc tương lân đạo lành.
7.
Phật về tịnh hóa chúng sanh
Trang nghiêm trí tánh cao thanh chơn thường
Người người san sẻ tình thương
Đạo đời gắn bó bốn phương thanh bình.
8.
Phật về tỉnh thức vô minh
Quán chiếu cuộc sống… an sinh vạn loài
Ánh bình minh… rực sương mai
Long lanh chiếu diệu bên đài hồng liên.
9.
Dòng thời gian… bóng hạo nhiên
Giáo hội Phật giáo… kết duyên pháp trần
Ba mươi năm… xây hạ tầng
Ba mươi năm… chuyển pháp luân hương thiền.
10.
Ba mươi năm… gieo đạo hiền
Ba mươi năm… nối thiện duyên ngàn đời
Ba mươi năm… ướm mộng thời
Ba mươi năm… chứng mười mươi nhiệm mầu!
11.
Ba mươi năm… gắn xưa sau
Ba mươi năm… nhập thẳm sâu phong trần
Ba mươi năm… áng phù vân
Ba mươi năm… đẹp nghĩa nhân tình người.
12.
Phật về thơm đóa sen tươi
Ba mươi năm… tạ ơn đời bể dâu
Phật về pháp vị ngọt ngào
Ba mươi năm… chúc mừng chào thời gian
Phật về rạng rỡ phương Tăng
Ba mươi năm… ánh đạo vàng tỏa hương.
Tp. Hà Nội, 7-11-2011
TrẦn Quê Hương
(*) Đức Phật đản sanh cách đây 2.635 năm
[1] Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của Ban Chấp hành TW khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Báo Sài Gòn Giải Phóng , chủ nhật ngày 17/8/2008, trang 9.
[2] Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của Ban Chấp hành TW khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Báo Sài Gòn Giải Phóng , chủ nhật ngày 17/8/2008, trang 9.
[3] Xem thêm: Nguyễn Tiến Dũng, An ninh đất đai thời kỳ chuyển đổi kinh tế ảnh hưởng đến đời sống nông dân ở nông thôn. In trong: Tạp chí kinh tế và phát triển, số 163, tháng 1/2011, trang 28-33.
[4] Mai Ngọc Anh, An sinh xã hội đối với nông dân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Hà Nội, Nxb.Chính trị quốc gia, 2010, trang 298.
[5] Nhiều tác giả , Nông dân nông thôn và nông nghiệp những vấn đề đang đặt ra, Hà Nội, Nxb Tri thức, 2008, trang 101.
[6] Nguyễn Hữu Dũng, Bảo đảm gắn kết chặt chẽ tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong chiến lược phát triển nước ta đến năm 2020, Tạp chí Kinh tế và Phát triển, số 163, tháng 1/2011, trang 10-11
[7] Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII của Ban Chấp hành TW khóa X về Nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Báo Sài Gòn Giải Phóng , chủ nhật ngày 17/8/2008, trang 9
[8] Về họat động khám chữa bệnh ở nông thôn của Phật giáo, Giáo sư Hà Văn Tấn cho biết: “Và, ngôi chùa trong nhiều trường hợp, đã làm chức năng của một bệnh viện. Một bi kí thế kỷ 14 trên vách núi Non Nước (tỉnh Ninh Bình) cho biết ngôi chùa ở đây đã có một loại ruộng gọi là “bệnh điền” (có nghĩa là ruộng chữa bệnh), thu hoạch ở loại ruộng này hẳn là được chi dùng cho việc chữa bệnh cho dân. Trên núi Yên Tử, vẫn còn những di tích được coi là nơi chế biến dược liệu của các nhà sư xưa kia. Trong nhiều vườn chùa, bên cạnh cây ăn quả, cây cảnh, người ta còn trồng các cây thuốc. Có nhà sư đã trở nên những thầy thuốc giỏi. Nổi tiếng nhất là nhà sư Tuệ Tĩnh, tác giả sách Nam dược thần diệu, ghi lại những bài thuốc hiệu nghiệm, dùng toàn dược liệu cây cỏ Việt Nam. Ván in một số sách của ông cũng được cất giữ trong các chùa”. Dẫn theo: Hà Văn Tấn, Đến với lịch sử văn hóa Việt Nam, Hà Nội, Nxb.Hội Nhà Văn, 2005, trang 276-277.
[9] Dương Hoàng Lộc, Hoằng pháp trong hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo với những vấn đề xã hội của Việt Nam hiện nay.In trong: Ban Hoằng Pháp TW, Kỷ yếu Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc năm 2011, Bình Dương, ngày 9-13/3/2011, trang 136.
[10] Nguồn: http://phapluattp.vn/2010082511008622p0c1013/bao-dam-ngay-cang-tot-hon-an-sinh-xa-hoi-va-phuc-loi-xa-hoi-la-mot-noi-dung-chu-yeu-cua-chien-luoc-phat-trien-kinh-texa-hoi-20112020.htm
[11] Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang, Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng, Hà Nội, Nxb.Văn hóa thông tin, 2000, trang 65.
[12] Dịch vụ xã hội (Social services) là hành động hay hoạt động bác ái có tổ chức, là chương trình hay phương thức sử dụng nhân viên xã hội và những chuyên viên liên quan để thực hiện mục tiêu an sinh xã hội-tức sự duy trì và làm gia tăng hạnh phúc cho con người trước những hụt hẫng do biến đổi về kinh tế-xã hội, mất việc làm, ốm đau, tuổi già,…Tùy theo mỗi quốc gia mà khái niệm này được hiểu khác nhau. Đặc biệt, các tổ chức tôn giáo là một thành phần không thể không tính đến. Việc cung cấp các dịch vụ xã hội của hệ thống này nhằm hướng đến đáp ứng nhu cầu căn bản của con người, đem đến hạnh phúc của đa số quần chúng nhân dân qua việc cung ứng các dịch vụ sức khỏe, giáo dục, nhà ở,… và làm thăng tiến bộ phận yếu thế, khốn khổ trong xã hội và đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia.Nguồn: Dẫn theo: Nguyễn Thụy Diễm Hương, Tập bài giảng học phần Dịch vụ xã hội dùng cho sinh viên Bộ môn Công tác Xã hội-Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Tp.HCM), bản photocopy, tháng 3/2008.
[13] Tư liệu thu thập riêng của tác giả.
[14] Tư liệu thu thập riêng của tác giả.
[15] Nguồn:www.phật quang.com.
[16] Tư liệu thu thập riêng của tác giả.
[18] Khác với hoạt động từ thiện xã hội với ý nghĩa hỗ trợ vật chất mang tính nhất thời, công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi trong xã hội, thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề trong quan hệ giữa con người, trao quyền và giải phóng con người đem lại sự bình yên cho xã hội. Vận dụng lý thuyết về hành vi của con người và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào các mặt ở đó con người tác động với môi trường sống của họ. Nguyên tắc về quyền con người và công bằng xã hội là cốt lõi của xã hội. Còn ở Việt Nam, khái niệm này được hiểu là một hoạt động có tính phát triển cao dựa trên những phương pháp và nguyên lý đặc biệt với mục đích hỗ trợ các cá nhân, nhóm người, cộng đồng giải quyết các vấn đề xã hội-vì thế công tác xã hội có nhiệm vụ là vì hạnh phúc của người dân và bình an của xã hội. Các lĩnh vực thực hành của công tác xã hội gồm: Làm việc với người cao tuổi, người liên quan đến ma túy, phúc lợi trẻ em, phát triển cộng đồng ở làng/xóm, làm việc ở trại giam, làm việc với người khuyết tật, dịch vụ gia đình, bảo đảm thu nhập, chăm sóc y tế và sức khỏe, sức khỏe tâm thần, công tác xã hội trong các khu công nghiệp. Nguồn: Nguyễn Hải Hữu (chủ biên), Khung kỹ thuật phát triển nghề công tác xã hội, Hà Nội, Nxb.Thống kê, 2009, trang 7.
[19] Tô Duy Hợp, Lương Hồng Quang, Phát triển cộng đồng lý thuyết và vận dụng, Hà Nội, Nxb.Văn hóa thông tin, 2000, trang 48.
[20] Hiện nay, tại các trường đại học như: Đại học Lao động-Xã hội, Đại học Mở Tp.HCM, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Tp.HCM),…đều có đào tạo ngành học này với nhiều cấp bậc khác nhau. Tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Tp.HCM) có 2 đơn vị đào tạo, nghiên cứu và thực hành lĩnh vực này là Bộ môn Công tác xã hội và Trung tâm Tham vấn -Thực hành Công tác xã hội.
[22] Dương Hoàng Lộc, Hoằng pháp trong hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo với những vấn đề xã hội của Việt Nam hiện nay.In trong: Ban Hoằng Pháp TW, Kỷ yếu Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc năm 2011, Bình Dương, ngày 9-13/3/2011, trang 143-144.
[23] Viện Phát triển bền vững vùng Nam bộ.
[24] Sở Nội vụ tỉnh Kiên Giang.
[25] Viện Phát triển bền vững vùng Nam bộ.
[26] Lê Hương, Sử liệu Phù Nam, 1974, Sài Gòn, Nguyên Nhiều, trang 5.
[27] Ngô Văn Lệ, Các tôn giáo bản địa và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa của người Việt Nam bộ, tháng 10/2008, tham luận tại Hội nghị Thông báo kết quả nghiên cứu KHXH Nam bộ, trang 1-3.
[28] Số liệu tổng hợp của Vụ Phật giáo – Ban Tôn giáo Chính phủ
[29] THƠ, NTHL, NXBTPHCM 1995, tr. 163
[30] Theo số liệu Rằm tháng Bảy 2011
[31] Các vị tốt nghiệp tại Học viện Huế và Hà Nội chưa thống kê được.
[32] Số liệu của khóa 1996-2002; 2006- ; 2008 - .
[33] Số liệu thống kê của các tự viện chưa đầy đủ.



























