Thờ cúng Quan Thế Âm tại Đài Loan hiện nay
Thờ cúng Quan Thế Âm tại Đài Loan hiện nay
THỜ CÚNG QUÁN THẾ ÂM TẠI ĐÀI LOAN HIỆN NAY
Bồ Tát Quán Thế Âm dưới hình thức một người phụ nữ Trung Hoa, tiếng Hoa là Guanyin là nguồn cảm ứng tâm linh cho nhiều nữ Phật tử khắp thế giới, kể cả Đài Loan. Thờ cúng đức Quán Âm là một trong những hình thức tu tập phổ biến nhất ở Đài Loan hiện nay. Bài tham luận này nói về việc thờ cúng đức Quán Âm hiện nay ở Đài Loan qua nghiên cứu điển hình ba chúa thờ Quán Âm đông đảo Phật tử.
Thờ cúng đức Quán Âm
Muốn biết tại Đài Loan người ta thờ đức Quán âm nhiều hay không chỉ cần đến thăm nhà một thường dân Đài Loan và xem bàn thờ gia đình họ. Hầu như đều một kiểu, đằng sau bài vị thờ ông bà là hình tượng đức Quán Âm người nữ mặc áo dài trắng, được vẽ làm hình nền của bàn thờ gia đình. Hình tượng này được gọi là “ảnh phật”(fozu qi), hoặc “ảnh Mẹ Quán Âm” (Quanyinma lian). Là hình tưởng làm nên bàn thờ gia đình, đức Quán Âm hàng ngày được thờ cúng cùng ông bà tổ tiên của gia đình và các thần phù hộ khác quả thật, ở Đài Loan đức Quán Âm được hâm mộ đến nỗi người ta đưa ngài vào trong “ Năm vị thần phù hộ của gia đình” (Jiatang wushen).
Muốn biết đức Quán Âm được hâm mộ như thế nào, có thể xem ách người ta thờ cúng trong các truyền thống tôn giáo khác nhau thuộc văn hóa Trung Hoa. Phật tử Trung Hoa thường tin đức Quán Âm là biểu tượng lòng đại bi. Tên “Quán Âm” theo tiếng Trung Hoa có nghĩa “nghe hết mọi âm thanh”, lắng nghe hết tiếng người thế gian. Kinh Phật Trung Hoa mô tả đức Quán Âm là Bồ tát đại bi đến cứu giúp bất cứ ai kêu cầu ngài. Tại xứ Đài Loan ngày nay, ta thấy người theo Lão giáo gọi ngài là Quán Âm Đại Sĩ, vị Bồ tát nhà Phật (guanyin dashi) hoặc Nhà tu lái tàu từ bi (Cihang Zhenren), hoặc Đại sĩ lái tàu từ bi (cihang dashi). Các tín đồ đạo Yingquandao, một đạo kết hợp 3 tôn giáo lớn Khổng, Lão, Phật và nhiều yếu tố khác, gọi là bồ tát này là “Cổ Phật Nam Hải” (nanhai gufo). Các tín ngưỡng dân gian ở Trung Hoa xem Đức Quán Âm là vị cứu độ phụ nữ và trẻ con, người thường cứu giúp các phụ nữ lúc sanh nở, do đó, đức Quán Âm cũng được gọi là đức Quán Âm Hộ Sanh (Songzi guanyin). Có thể nói không ngoa rằng đức Quán Âm được thờ cúng trong mọi tầng lớp văn hóa tôn giáo của Trung Hoa.
Lịch sử Bồ tá Quán Âm Avalokitesvara chuyển thành người Hoa là một câu chuyện dài. Có lẽ Bồ tát đến Trung Hoa khoảng thế kỷ thứ 2, cùng lúc kinh chuẩn bị tâm linh tiến tới giác ngộ hoàn toàn (Cheng – chu Kuang – ming ting – I ching) được dịch. Vào thế kỷ thứ 6 hoặc 7, Bồ tát lại được liên kết với huyền thoại công chúa Diệu Sơn. Truyện Cuộc đời Bồ tát Quán Âm (Guanshyin púa chuanlue) của nữ thi họa sĩ danh tiếng Guan Daosheng (1262 – 1319 sau công nguyên) khẳng định Bồ tát chuyển thân từ một người Nam Ấn Độ thành một người nữ Trung Hoa chậm nhất cũng vào khoảng thế kỉ 14.
Sự chuyển hình của Bồ tát thành một phụ nữ Trung Hoa thường được dùng để giải thích lý do đức Quán Âm được người hoa thờ cúng nhiều. Glen Đubridge lại cho sở dĩ người Hoa thờ đức Quán Âm nhiều vì huyền thoại công chúa Diệu Sơn của Tăng già và giới trí thức Trung Hoa, bởi vì phụ nữ người Hoa dễ dàng cảm thông với những khổ đau công chúa Diệu Sơn phải gánh chịu. Xing Li tin rằng cuộc chiến tranh kéo dài thời Nam Bắc Triều (420 – 589 sau Công nguyên) đã để lại một nỗi trống trải tâm linh trong tâm người dân mà những lời dạy của Khổng, Lão cũng không dễ gì khỏa lấp được. Vì vậy, vị Bồ tát ai kêu cầu đến tên cũng đều giúp được đong đảo quần chúng nhiệt liệt hâm mộ. Hơn nữa, kinh Phật của Trung Hoa còn khẳng định ai cầu xin sinh con trai cũng được Bồ Tát Quán Âm toại nguyện. Thời xưa, phụ nữ Trung Hoa rất quý điều này, bởi vậy sinh con trai sẽ giúp nâng cao địa vị họ trong gia đình và xã hội. Cho đến nay, phần nghiên cứu về Bồ Tát Quán Âm đầy đủ nhất vẫn là của Yu Chu-Fang, quyển : Đức Quán Âm Kuan-Yin , chuyển hình thành người Hoa của đức Quán Âm Avalokitesvara người Ấn, xuất bản năm 2001. Yu tìm dấu vết quá trình đức Quán Âm chuyển đổi sang người nữ và người Hoa từ khi Bồ Tát Quán Âm Avalokitesvara đến Trung Hoa và khẳng định sự chuyển hình này không những khiến đông đảo người Trung Hoa thờ cúng ngài hơn mà còn giúp gốc rễ Phật Giáo ăn sâu thêm vào lòng người dân Trung Hoa.
Bồ tát Quán Âm Avalokitesvara là đàn ông, người Ấn và đạo Phật, nhưng Quán Âm Guanyin người Hoa không có những đặc điểm ấy, Huyền thoại công chúa Diệu Sơn mang nhiều ngụ ý dân tộc Hoa. Chuyện kể nàng sẵn sang hi sinh bản than để cha được hạnh phúc, tiêu biểu cho lòng hiếu thảo rất được quý trọng trong nền văn hóa Trung Hoa. Trên một phương diện, huyền thoại công chúa Diệu Sơn là nhịp cần nói liền Khổng và Phật giáo, vì nó kết hợp các giá trị cả hai đạo đều xem trọng . Sách Lão giáo Quán Âm các cho rằng Quán Âm là vị thần bất tử được Ngọc Hoàng Thượng Đế cho xuống trần gian cứu giúp người khổ. Theo đây, vai trò của vị thần Lão giáo Ngọc Hoàng Thượng Đế và quan niệm về đạo lão về thần bất tử che mất ảnh hưởng của giao lý nhà Phật. Một bộ sách tôn giáo khác của người Hoa, Bộ Bách Khoa các vị thần Tam giáo, còn cho rằng người ban danh hiệu đầy đủ cho đức Quán Âm (Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát) không ai khách hơn là Ngọc Hoàng Thượng Đế. Theo đây thì Ngọc Hoàng Thượng Đế rõ ràng được đặt cao hơn đức Quán Âm. Ngọc Hoàng Thượng Đế là vị thần tối cao trong chư thần của tín ngưỡng dân gian người Hoa, điều đó chứng tỏ việc thờ cúng đức Quán Âm đã được hòa nhập vào óc tưởng tượng người bình dân Trung Hoa.
Các tín ngưỡng dân gian người Hoa miêu tả đức Quán Âm khác với quan niệm đạo Phật về một vị bồ tát. Miêu tả này gàn gũi văn hóa Trung Hoa hơn, do đó người Hoa bình dân dễ theo hơn. Trong các mẩu chuyện pha trộn này, ta có thể phân biệt giáo lý nhà phật về lòng đại bi và nghiệp, giáo lý sđạo Khổng về chữ hiếu và các giá trị thuộc phụ hệ, và đạo Lão về thần thông và thần bất tử. Nói các khác, đức Quán Âm chuyển thành người nữ trong văn hóa Trung Hoa chính là kết quả của Tâm giáo kết hợp Phật, Khổng, Lão. Sự kết hợp này biểu hiện qua 3 cách thờ cúng đức Quán Âm ở Hsinchu, một thành phố phía bắc Đài Loan. Dò theo dấu tích có thể biết người Hán di cư đến vùng Hsinchu vào thế kỷ 17, do đó đây là vùng định cư sớm nhất cuẩ người Hoa trên đảo. Các chùa cổ Hsinchu phản ánh những nền văn hóa trong các giai đoạn di cư khác nhau của người Hoa. Thông tin cho các công trình nghiên cứu được lấy trực tiếp từ hiện trường nghiên cứu ba chùa viếng thăm vào tháng 11 năm 2010, cùng với những sách xuất bản và các bảng yết thị trên tường của ba chùa.
Chùa Zhulian
Chùa Zhulian nằm bên ngoài thành phố cũ của thành phố Hsinchu hiện nay, vẫn còn được các tín đồ đến viếng. Trong số ba chùa chúng tôi nghiên cứu, đây là chùa được lập sớm nhất. Đầu tiên, chùa Zhulian được gọi là Quán Âm Các (guanyin ting). Theo huyền thoại, năm 1783, những di dân Mân Nam thỉnh về một tượng Quán Âm từ Trung Hoa lục địa và đặt tượng trong một túp lều nhỏ để thờ. Sau này, một ông tên Wang Shijie nào đó đã cúng dường đất và kinh phí để xây chùa Zhulian tại địa điểm hiện nay.
Người ta cho rằng tượng Quán Âm đầu tiên tại chùa Zhulian có liên quan mật thiết với một thánh địa Quán Âm ở Trung Hoa lục địa. Họ nói pho tượng đến từ ngôi chùa có tượng Quán Âm Bất Khẳng Khứ huyền thoại ở núi Putuo trong biển Nam Hải. Người Hoa tin núi Putuo là nơi Bồ tát Quán Âm từng thuyết pháp. Khi núi Putuo còn chưa được chính quyền Cộng Sản Trung Quốc, các tín đồ chùa Zhulian cứ mỗi mười hai năm lại hành hương đến núi ấy.
Còn bàn thờ tại chùa Zhulian màu sắc sặc sỡ, phản ánh ảnh hưởng sâu đậm các tín ngưỡng dân gian. Các bàn thờ trong chùa thờ Bồ tát Quán Âm, Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Phổ Hiền và các vị thành hiền Phật Giáo khác, ngoài ra còn thờ cả các thần dân gian không phải Phật Giáo như chú sanh Nương Nương (Zhusheng niangniang), Thất nương Phu Nhân (Qiniang furen). Mười hai vị hộ sanh (Shier pozhe), Hộ pháp giữ chùa (Jingzhu)…. Với những vị thần thờ như vậy, rõ ràng chùa Zhulian dược xây dựng chủ ý không phải để tu tập tâm linh. Phần lớn nếu không muốn nói là tất cả, các vị thần trong chùa đều liên quan mật thiết tới những quan tâm thường tình trong đời sống gia đình người bình dân (ví dụ, sanh nở an toàn, phù hộ cho trẻ em yên ổn…) Như vậy, chùa Zhulian được dựng lập với mục đích giúp người dân yên tâm đối phó những tình huống khó khăn ngặt nghèo trong cuộc sống, cho nên chẳng đáng ngạc nhiên khi chùa thường vẫn được cư sĩ điều hành hơn là giáo hội Phật giáo.
Hơn nữa, chùa Zhulian không chỉ thờ một mà là ba pho tượng Quán Âm, dung theo tập tục của các tín ngưỡng dân gian Trung Hoa. Các tượng này được các tín đồ gọi là một cách thân mật là Mẹ nhất (da ma). Mẹ nhì (er ma) và Mẹ ba (san ma). Khi một tín đồ gặp chuyện buồn khổ, người ấy có thể “thỉnh” một trong các bà mẹ Quán Âm về nhà thờ. Họ tin rằng làm như vậy đức Quán Âm sẽ đặc biệt ban phước cho gia đình. Chùa Zhulian có thể đăng ký với bộ Nội vụ là chùa Phật giáo, nhưng rõ ràng nên gọi nó là cùa tín ngưỡng dân gian người Hoa thì đúng hơn.
So với chùa Zhulian có chủ quyền riêng, nằm trên đường phố đông đúc và dễ thấy, chùa Fulian hiu quạnh và lặng lẽ hơn. Chùa Fulian ở sát liền bên Đền thần thành phố rất đông người viếng và thuộc loại đền thần lớn, quan trọng của Đài Loan nên chùa Fulian dễ bị nhầm lẫn là một bộ phận thuộc Đền thần thành phố.
Chùa Fulian xây dựng năm 1803 và chỉ thờ tượng Bồ Tát Quán Âm. Người ta cho rằng trước đây đức Quán Âm được thờ trong Đền thần thành phố. Bên cạnhĐền thần có miếng đất trống với một giếng cổ. Theo lời đồn, giếng cổ này là nơi binh lính của Thần đền ra vô. Do đó, dù muốn xây dựng ngôi chùa thờ đức QUán Âm trên miếng đất trống, các tín đồ cũng không dám. Sau cùng, họ bày lễ xin quẻ và được thần đèn cho phép xây chùa. Lúc đầu dường như các tín đồ xây chùa xem đức Quán Âm dưới quyền thần đền. Tuy theo lẽ như vậy nhưng tại chùa có tấm biến ghi lại sự tích nhờ thờ đức Quán Âm mà giữ được đền thần thành phố. Trong thời kỳ phong trào Kominka nổi dậy (những năm cuốii thập niên 1920 – 1930 cho đến năm 1945 ), khi quân thực dân Nhật tăng cường kiểm soát sinh hoạt văn hóa và tôn giáo tại Đài Loan, các sinh hoạt của Lão giáo và các tín ngưỡng không phải Phật giáo đều bị cấm, đền đài thiêu hủy. Tuy vậy, nhờ ở sát chùa thờ Quán Âm, Đền thần thành phố được lầm cho là một bộ phận của chùa Quán Âm nên không bị hủy. Nhưng truyền thuyết này còn rất đáng ngờ, Vào thời kỳ phong trào Kominka. Nước Nhật đã biến Đài Loan thành thuộc địa hơn ba thập kỷ rồi. Làm sao nhà cầm quyền Nhật có thể không thấy ngày lễ hội lớn đền thần cử hành để cúng tế vị thần của thành phố đặc biệt là buổi lễ, trước khi bị Nhật chiếm đóng, được chủ trì bởi các quan chức triều đình nhà Thanh? Tuy nhiên, người ta quả quyết như vậy cũng nói lên một đức tính mọi người cho là đức Quán Âm thường có: lòng mẹ. Bảo vệ đền thần thành phố bị phá hủy cũng tương tự như mẹ bảo vệ con bị hại. Ai tọa nên truyền thuyết này hẳn trong tâm đã có hình tượng đức Quán Âm như là người mẹ hiền.
Ngày nay, cả đền Thần lẫn chùa Fulian đều bị các hàng quán ăn uống bao vây. Khu vực này trở thành địa điểm du lịch của thành phố Hsinchu và không bao giờ vắng đám đông. Nhưng gần các hàng ăn cũng đồng nghĩa với chùa Fulian giờ đây đầy những vết bẩn dầu ăn và lọ nghẹ, phần bên trong chùa thì tối tăm không đủ ánh sang khiến chùa ảm đạm, như bị bỏ bê. Khi du khách ùn ùn kéo đến cúng ở đền thành phố Hsinchu, họ có viếng chùa Falian thì cũng tình cờ chứ không định trước. Trên trang Web của Hsinchu giới thiệu du khách, Đền thần thành phố được xem là điểm du lịch thu hút trong khi chùa Falian chẳng được đả động đến. Tuy thế, bị bỏ quên cũng hay cho chùa, bởi chùa được lập nên chẳng phải để thành thành địa trung tâm của Hsinchu. Thay vào đó, đức Quán Âm chùa Falian được xem là bà mẹ lý tưởng đúng tính thần Khổng giáo, một người mẹ bảo vệ con lúc nguy khốn (như thời phong trào Kominka) nhưng chẳng bao giờ tranh giành lợi danh với con.
Chùa Zhiguan
Khác với hai chùa kia do cư sĩ quản lý, chùa Zhiguang do Ni bộ điều hành. Theo những điều ghi lại trên bia đá dựng trong khuôn viên chùa, đất chùa được than mẫu của vị trụ trì, tỳ kheo ni Daguan, cúng dường vào năm 1957. Khởi đầu, chùa chỉ là một túp lều nhỏ. Sau đó, công trình xây dứng bắt đầu từ thập niên 1950 – 1960 và mãi đến năm 1980 mới hoàn tất. Lời ghi trên bia cũng khẳng định chùa Zhiguang thuộc Tông tịnh độ.
Tỷ kheo ni Daguang sinh trưởng tại Hsinchu. Như các vị ni Đài Loan thuộc thế hệ xưa, sư ít muốn được biết tiếng và chúng tôi gặp nhiều khó khăn khi phỏng vấn sư để thu lượm thông tin về cuộc đời sư. Sư ít nhất cũng ngoài 60 và những vị quanh sư cho biết chính sư đã lập chùa Zhiguan để tu tập tâm linh. Vị trí và khu vực quanh chùa nói lên mục đích ấy. Khác với hai chùa Zhulian và Falian, chùa Zhuguang nằm ở ngoại ô thành phố Hsinchu và chẳng hề thấy bóng dáng người buôn bán lao xao trong khuôn viên chùa. Cảnh chùa thật yên tĩnh, thanh lương. Điều này có lẽ quan trọng hơn, chùa Zhiguan ở cạnh chùa ni Yitong và Phật học viện Phước Nghiêm, hai cơ sở này vị hòa thượng có óc cách mạng Ấn Thuận (1906 – 2005) đã từng đến giảng dạy. Phản ánh tinh thần cải cách của Hòa thượng Ấn Thuận , nơi chùa Zhiguan không có đấu vết các tín ngưỡng dân gian người Hoa, tỉ như đốt tiền giấy cho người chết.
Đối với chư ni sinh hoạt theo khôn phép Ni bộ tại chùa Zhiguan, đức Quán Âm đường như chiếm vị trí quan trọng trong tâm các vị.
Đến chùa, ta không thể không lưu ý pho tượng Quán Âm cao 7m3 đặt tại cổng. Cầm bình nước cam lồ, đức Quán Âm từ ái nhìn xuống chúng sanh. Theo những gì được ghi trên trang Web, từ năm 1994 đến nay tỳ kheo ni Daguang đang thực hiện công cuộc chuyển ngữ kinh phật sang tiếng bản xứ ĐàiLoan bằng chữ La tinh, và một trong các dự án đầu tiên của sư là chuyển ngữ phẩm phổ môn trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Hiển nhiên, đức Quán Âm là nguồn khích lệ tinh thần lớn đối với chư ni tại chùa Zhiguan.
Kết luận
Mặc dù cả ba chùa nói trên đều thờ cúng đức Quán Âm, phong cách của họ biểu hiện những nét văn hóa về tín ngưỡng khác hẳn nhau. Chùa Zhulian khẳng định là Phật giáo, chùa Falian là Lão giáo, nhưng nghiên cứu tại chỗ cho thấy cả hai chùa đều chịu ảnh hưởng tín ngưỡng dân gian rất đậm. Hoàn toàn ngược lại, chùa Zhiguan cỉ thờ tượng ngài như người khích lệ tinh thần cho một đoàn thể tăng, đó là chư ni của một tu viện Phật giáo Trung Hoa.
Đức Quán Âm thờ tại ba chùa cũng giữ những vai trò khác biệt nhau. Chùa Zhulian do những di dân đầu tiên từ Trung Hoa lục địa lập nên, vì vậy thờ đức Quán Âm vì những mối quan tâm bình thường trong cuộc sống hằng ngày của người bình dân. Chùa Fulian, bị che khuất bởi cái bong của đền Thần thành phố Hsinchu đông đảo người viếng và rất dễ bị lãng quên. Nhưng theo truyền thuyết, vào thời điểm nguy khốn, đức Quán Âm đã đứng ra bảo vệ ngôi đền lân cận như mẹ bao bọc con. Theo đây, việc thờ cúng đức Quan Âm được lòng vào trong mẩu chuyện Khổng giao nói về người mẹ lý tưởng. Trái lại, tại chùa Zhiguan đức Quán Âm được chư ni sống thành đoàn thể tăng thờ làm nguồn cảm hứng tâm linh và mẫu mực của lòng từ. Cho nên, có lẽ Bồ Tát Quan Âm Avalokitesvara cho dù chuyển thành hình nữ không phải lúc nào xung là biểu tượng tranh đấu bình quyền nam nữ: tượng Quán Âm thờ tại chùa Falian nhằm nâng cáo giá trị Khổng giáo về đức tính người mẹ. Chỉ khi biểu hiện những thuộc tính tích cực của một đức đức Quán Âm người nữ thần tượng được người ngưỡng mộ, như ở chùa Zhiguan, có lẽ ngài mới có thể giúp nữ giới có được chủ quyền bình đẳng.
Người dịch: Sư cô Thích nữ Viên Thể




























